Chùa

        1. Khái quát về di tích chùa ở Hội An

        Trong quá trình Nam tiến dưới thời các chúa Nguyễn, tuy không lấy Phật giáo làm quốc giáo như thời Lý - Trần, nhưng các chúa Nguyễn lại lấy Phật giáo làm chỗ dựa cho chính sách an dân trị quốc. Đi đến đâu người Việt cũng được chúa Nguyễn cho xây dựng chùa để thờ Phật. Đây là một vấn đề tất yếu, bởi lẽ tinh thần Phật giáo đã thấm sâu vào trong tư tưởng tình cảm của mỗi người dân Đại Việt. Kể từ khi Thừa tuyên đạo Quảng Nam thành lập, chúng ta đã thấy có bóng dáng của những ngôi chùa cũng như các vị thiền sư đến đây hoằng hóa. Tại Đàng Trong, các dòng thiền bắt đầu được truyền bá và phát triển mạnh mẽ, nhưng để lại dấu ấn đặc biệt và tồn tại phát triển phải kể đến Thiền phái Lâm Tế với vai trò của Thiền sư Nguyên Thiều (1648 – 1728) và Thiền phái Tào Động với vai trò của Thiền sư Thích Đại Sán – Thạch Liêm (1633 – 1704). 

        Sau khi tham dự giới đàn ở Huế, Quảng Nam, thiền sư Thạch Liêm cư trú ở Hội An một thời gian ngắn rồi trở về nước, trong khi đệ tử của thiền sư là Hưng Liên trụ trì chùa Tam Thai viên tịch dẫn đến sự truyền thừa của dòng Tào Động tại Hội An, Quảng Nam xem như không còn. Mãi đến khi thiền sư Minh Hải khai sơn chùa Chúc Thánh và dòng Thiền Lâm Tế Chúc Thánh thành lập thì tình hình Phật giáo Hội An mới ổn định và phát triển. Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh ra đời cuối thế kỷ XVII, do Thiền sư Minh Hải - Pháp Bảo đời 34 dòng Lâm Tế khai sơn chùa Chúc Thánh ở Hội An. Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh phát tích tại Hội An, Quảng Nam và nhanh chóng được truyền bá rộng rãi tại các tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam, thậm chí còn phát triển mạnh tại nước ngoài. 

        Hiện nay, theo thống kê trên địa bàn thành phố Hội An có 25 cơ sở thờ tự theo hệ phái Bắc Tông và Nam Tông. Theo các tư liệu cho biết, các ngôi chùa được thành lập sớm nhất là Minh Hương Phật tự (1653), chùa Chúc Thánh, chùa Vạn Đức. Trong khi đó, những tịnh xá (hệ phái Khất sĩ) được hình thành muộn hơn, khoảng thập niên 60 thế kỷ XX. 

        Nhiều thế kỷ trôi qua, Phật giáo đã để lại dấu ấn khá sâu đậm trong lòng người Hội An. Trong tâm tưởng họ, hình tượng mà họ ngưỡng mộ nhất là Phật Thích Ca, Phật A Di Đà và Quan Thế Âm Bồ Tát. Vì vậy, họ luôn quan tâm đến ngày vía A Di Đà (15/1 âm lịch); Ngày lễ Phật Đản (15/4 âm lịch); Ngày lễ Vu Lan (15/7 âm lịch). Những ngày này họ đến chùa dâng hương, quỳ dưới chân Phật đài, chiêm bái, kính lễ, cầu mong gia đạo bình an, cầu nguyện giải thoát cho vong linh tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người quá cố,… và những ngày này trở thành ngày hội của những ai theo đạo Phật. 

        Nhìn chung, Phật giáo ở Hội An hình thành và phát triển khá sớm trong lịch sử. Nhiều ngôi chùa vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ kính truyền thống, lưu giữ nhiều tư liệu, hiện vật có giá trị lịch sử - văn hóa như bia ký, chuông, tượng, kinh Phật, mộc bản in kinh Phật,… và trở thành địa điểm sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng của nhân dân, trong đó một số chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia như chùa Chúc Thánh, chùa Phước Lâm, chùa Vạn Đức, chùa Viên Giác, chùa Hải Tạng. Hệ thống chùa, tịnh xá góp phần làm phong phú thêm loại hình di tích tôn giáo tín ngưỡng ở Hội An.

        2. Những ngôi chùa tiêu biểu

        Chùa Chúc Thánh: Tọa lạc tại số 104 đường Tôn Đức Thắng, phường Tân An. Chùa nằm cách trunh tâm phố cổ Hội An khoảng 2 km về phía Tây Bắc. Nguyên lúc ban sơ chùa chỉ là một ngôi thảo am (am bằng tranh) do tổ sư Minh Hải Pháp Bảo (tục danh là Lương Thế Ân) dựng nên để tu tập, dần dần đạo hạnh của ngài có ảnh hưởng rất lớn nên có nhiều đồ đệ, thiện nam tín nữ đương thời theo học ngày một đông, đồng thời họ cũng đã góp phần phát triển quy mô của ngôi chùa với tên gọi là chùa Chúc Thánh.

Chùa Chúc Thánh - Ảnh: Hồng Việt

 

        Chùa Chúc Thánh được lập vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, trên một khoảng đất cát rộng thuộc xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn của dinh Quảng Nam, nay là phường Tân An, thành phố Hội An. Mặt chùa được xoay theo hướng Tây Nam, kiến trúc tổng thể dựng theo hình chữ “quốc” gồm chính điện, nhà tổ và hai chái Đông, Tây. Phần chính điện được xây dựng khá quy mô với hệ thống cột đồ sộ cao vút, tạo cho ngôi chùa một không gian thoáng đãng uy nghi. Các vì kèo “chồng rường giả thủ”, “cột trốn kẻ chuyền” trong chính điện vừa thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa các phong cách kiến trúc Việt - Hoa vừa tạo nét độc đáo cho một ngôi chùa cổ xưa. Hệ thống tượng thờ trong chùa đều là “những tác phẩm điêu khắc nghệ thuật tuyệt mỹ”, từ tượng Phật Thích Ca, Di Đà đến các tượng Bồ Tát, Hộ pháp,… đều được chạm khắc hết sức tài hoa, sống động. Nhà tổ (hậu điện) xây dựng đơn giản hơn, đây là nơi đặt thờ long vị của những vị tổ sư, trù trì của chùa qua các đời. Hệ thống long vị, bài vị cũng được chạm trổ hết sức công phu, sắc xảo thể hiện bàn tay tài hoa của các nghệ nhân xưa. Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn có 16 tháp mộ của các vị sư trù trì qua các thế hệ. Đặc biệt, ở góc tây chùa có ngôi tháp 7 tầng của vị tổ sư khai sơn ngôi chùa, đó là tháp của tổ Minh Hải Pháp Bảo.

        Kể từ khi được tổ sư Minh Hải khai sáng đến nay, chùa Chúc Thánh được xem như là ngôi chùa tổ của dòng thiền Lâm Tế ở Quảng Nam nên thường được gọi là Tổ đình Chúc Thánh. Hằng năm, vào ngày mồng 7/11 ÂL chư tăng ni, phật tử khắp nơi tập trung về tổ đình để tưởng niệm ngày viên tịch (ngày mất) của vị tổ sư khai sơn Minh Hải. Đây là một trong những lễ hội tôn giáo lớn nhất ở Hội An.

        Ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1991.

       Chùa Phước Lâm: Tọa lạc tại thôn Trảng Suối, xã Cẩm Hà. Chùa do tổ sư Thiệt Dinh Chánh Hiển - Ân Triêm đời thứ 35 thuộc thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh khai sơn vào giữa thế kỷ XVIII với tên gọi là Phước Lâm tự bao hàm ý nghĩa là rừng phước vô hạn.

Chùa Phước Lâm - Ảnh: Hồng Việt

 

        Ngôi chùa này được xây dựng trên một khu đất cao ráo, phong cảnh hết sức lý tưởng. Phía sau là đồi cát lớn, trước mặt hồ nước rộng, xung quanh cảnh vật thanh u vắng lặng, thật đáng là nơi lý tưởng cho các bậc tu hành xa dứt trần duyên chăm bề kinh kệ.

        Toàn bộ công trình được xây dựng theo kiểu hình chữ “quốc” với chánh điện cao rộng bao gồm tiền điện, hậu điện và hai lầu chuông trống. Tiếp sau chánh điện là nhà thờ tổ làm nơi thờ cúng lịch đại các đời tổ sư, trù trì. Hai nhà Đông Tây chạy dài dọc theo trục Bắc Nam, là cầu nối giữa chánh điện và nhà thờ tổ tạo thành một khuôn viên khép kín.

        Ngoài những công trình chính, trong khuôn viên chùa còn có nhiều tháp mộ của các vị trù trì qua các đời như tháp các tổ Ân Triêm, Luật Oai Minh Giác, Quán Thông, Pháp Hoá, Vĩnh Gia… Đây cũng là những công trình kiến trúc khá độc đáo, cũng vừa góp phần tạo cho cảnh quang ngôi chùa càng thêm tráng lệ. Phúc Lâm tự xưa cũng từng được triều Nguyễn ban biển sắc tứ, công nhận là một trong những ngôi chùa tiêu biểu trên mảnh đất Hội An. Ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1991. 

        Chùa Vạn Đức: Tọa lạc tại thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà. Chùa Vạn Đức nằm bên bờ Nam của sông Cổ Cò (Lộ Cảnh giang) với các tên gọi Lang Thọ tự hay chùa Cây Cau. Chùa do tổ sư Minh Lượng Nguyệt Ân khai sơn vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII 

Chùa Vạn Đức - Ảnh: Hồng Việt

 

        Tổ sư Minh Lượng tự Nguyệt Ân, hiệu Thành Đẳng, tục danh là Lý Nhuận, người phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc. Ngài được tổ sư Nguyên Thiều mời sang cùng thời với tổ Minh Hải Pháp Bảo, sau khi tham dự đại giới đàn tại Thuận Hoá (Huế), ngài vào Quảng Nam đến xứ Đồng Nà xã Thanh Hà huyện Diên Phước thuộc phủ Điện Bàn nay là xã Cẩm Hà - Hội An khai sơn chùa Lang Thọ.

        Cũng như chùa Chúc Thánh, lúc ban đầu chùa Vạn Đức chỉ là một thảo am tu hành. Đến khoảng năm 1699 thì tổ Minh Lượng mới chính thức lập chùa lấy tên là Lang Thọ tự mà người dân địa phương quen gọi là chùa Cây Cau. Nơi đây cũng là một trong những ngôi chùa quan trọng để nhiều thế hệ sư sãi tu tập phật pháp, nhiều vị danh tăng kế vị trù trì. Mãi đến đời ngài Phổ Triêm là một vị cao tăng đắc đạo đã có công rất lớn trong việc đại trùng tu chùa Lang Thọ và đổi tên gọi là Vạn Đức, đồng thời đổi hướng của chùa từ hướng Đông Bắc sang hướng Tây Nam cho phù hợp với phong thuỷ địa lý. Tuy trải qua nhiều lần tu bổ, nhưng cơ bản chùa vẫn giữ được vẻ nguyên sơ cho đến ngày nay. Chùa Vạn Đức là một công trình có lối kiến trúc độc đáo, giàu tính nghệ thuật từ không gian bố cục, phong cách kiến trúc đến trang trí nội thất, là một trong những ngôi chùa danh tiếng được sách Đại Nam nhất thống chí nhắc đến như là một danh lam thắng cảnh của Hội An - Quảng Nam.

        Hiện nay trong chùa Vạn Đức còn lưu giữ được nhiều hiện vật hết sức quý giá như: bình bát của thiền sư Minh Lượng, y tăng cang của tổ Phổ Triêm, bức độ điệp của vua Minh Mạng ban cho thiền sư Toàn Đức Hoằng Tông cùng hàng trăm mộc bản (ván khắc gỗ) … Từ những giá trị đặc biệt đó, chùa Vạn Đức đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991.

        Chùa Viên Giác (Cẩm Lý tự): Tọa lạc tại số 52 đường Hùng Vương, phường Cẩm Phô. Tiền thân của chùa Viên Giác là chùa Cẩm Lý tại khối Xuyên Trung, phường Cẩm Nam ngày nay. Chùa được dời về vị trí hiện nay và có tên là chùa Viên Giác vào năm 1841 và đã trải qua nhiều lần trùng tu. Di tích có kiểu dáng kiến trúc đặc trưng của một ngôi chùa làng truyền thống với cây đa tỏa bóng, tam quan cổ kính cùng chánh điện ba gian, hai chái, mái lợp ngói âm dương, hệ vì kèo gỗ được chạm trổ công phu. Trong di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị văn hóa. Ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1991. 

 Chùa Viên Giác - Ảnh: Hồng Việt

 

        Chùa Hải Tạng: Chùa Hải Tạng tọa lạc tại khu vực Đồng Chùa thuộc thôn Bãi Làng - xã đảo Tân Hiệp hiện nay, xưa là phường Tân Hiệp của tổng Thanh Châu, Hoà Vang huyện, phủ Điện Bàn. Đây là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng có quy mô lớn để thờ Phật kết hợp thờ Thánh Thần nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cư dân trên đảo và là nơi để thương thuyền các nước ghé vào cầu cúng. Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì ngôi chùa này từng là nơi tu tập của Hương Hải thiền sư cùng nhiều vị danh tăng khác.

Chùa Hải Tạng - Ảnh: Hồng Việt

 

        Theo văn bia hiện đang lưu giữ tại chùa cho biết, vào năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758) chùa được dựng tại vị trí khác, cách vị trí hiện nay khoảng 200m về phía Đông Bắc. Nhưng do bị mưa bão làm hư hại nên vào năm Tự Đức nguyên niên (1848) chùa được dời về xây dựng lại trên địa điểm hiện nay. Chùa được xây dựng lại trên một khoảng đất cao, lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển theo hướng Tây Nam, trước mặt là vùng đồng ruộng và các khe nước tự nhiên. Toàn bộ công trình được bao bọc bởi tường rào xây bằng đá núi, phía trước có cổng tam quan với 3 lối ra vào. Trong là một khoảng sân rộng vừa để làm nơi tập trung thiện nam tín nữ trong các ngày đại lễ, vừa tạo không gian thoáng đãng cho ngôi chùa. Chính điện được xây dựng khá quy mô với nhiều hàng cột bằng gỗ lim cao lớn, khung chịu lực chính là hệ kèo “chồng rường giả thủ” chia khoảng cách làm 3 lòng, tạo cho không gian ngôi chùa càng thêm rộng rãi. Hầu hết các kèo gỗ được chạm trổ nhiều đồ án, hoa văn tinh xảo vừa để trang trí tăng vẻ thẩm mỹ, vừa làm giảm đi sự cao to nặng nề của toàn bộ khung chịu lực bên trong. Hệ thống thờ tự trong chùa cũng khá phong phú đa dạng. Gian chính giữa là nơi thờ Tam thế Phật, hai gian tả hữu thờ Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát. Ngoài ra, tại chính điện còn thờ Quan Thánh Đế Quân, Ngọc Hoàng Đại Đế, hậu điện thờ sư tổ Đạt Ma cùng long vị của các vị hoà thượng trù trì đời trước. Với cách thức thờ tự như vậy thể hiện quan niệm tam giáo đồng nguyên của cư dân xứ Cù Lao và cũng là một quan niệm khá phổ biến của các ngôi chùa làng ở Hội An.

        Chùa Hải Tạng được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 2006.

        Chùa Quan Âm (tên gọi khác là Minh Hương Phật tự): Tọa lạc tại số 13 đường Nguyễn Huệ, phường Minh An. Chùa Quan Âm nằm liền kề về phía sau Quan Công miếu (Trừng Hán Cung, chùa Ông), được xây dựng vào khoảng năm 1653 để thờ Quan Thế Âm Bồ Tát.