Tổng quan về Di sản Văn hóa thế giới Khu phố cổ Hội An

      1. Vị trí địa lý

      Thành phố Hội An, với diện tích tự nhiên khoảng 60km2, nằm ở vùng cửa sông - ven biển, thuộc hạ lưu, tả ngạn sông Thu Bồn; có tọa độ địa lý kéo dài từ 15o15’26” đến 15o55’15” vĩ độ Bắc, 108o17’08” đến 108o23’10” kinh độ Ðông. Phía Tây Bắc thành phố Hội An cách thành phố Đà Nẵng 30km và phía Nam, cách thành phố/tỉnh lỵ Tam Kỳ khoảng 50km. Thành phố Hội An được bao bọc bởi môi trường tự nhiên sông - biển và sự chở che, gắn bó của các huyện thị láng giềng: Đông và Đông Nam giáp huyện Duy Xuyên, Tây và Tây Nam giáp huyện Điện Bàn, Bắc và Đông Bắc giáp biển Đông. Đây là một thành phố ven biển, gồm 09 phường (Minh An, Cẩm Phô, Sơn Phong, Tân An, Thanh Hà, Cẩm Nam, Cẩm Châu, Cẩm Nam, Cửa Đại), 03 xã trên đất liền (Cẩm Hà, Cẩm Kim, Cẩm Thanh) và 01 xã đảo (xã Tân Hiệp) thuộc cụm đảo Cù Lao Chàm nằm cách đất liền 18km về phía Đông (cụm đảo Cù Lao Chàm có tọa độ địa lý từ 15052’30’’ đến 16000’00’’ vĩ độ Bắc và từ 108024’30’’đến 108034’30’’ kinh độ Đông, là vùng lõi Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm - Hội An được UNESCO công nhận ngày 26 tháng 5 năm 2009). 

      Khu phố cổ Hội An nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, có tọa độ địa lý 15052’37,78’’ vĩ độ Bắc và 108019’43,09’’ kinh độ Đông (vị trí tại ngã tư Trần Phú - Lê Lợi). Địa bàn của Khu phố cổ Hội An nằm chủ yếu ở phường Minh An, một phần ở các phường Cẩm Phô và Sơn Phong, với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ.

Phố cổ Hội An - Ảnh: Trần Quang Ngọc

 

      2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển

      Tên gọi Hội An xuất hiện trên các tư liệu sớm nhất được biết cho đến nay là vào đầu thế kỷ 17. Tên gọi Faifo thì xuất hiện trên các bản đồ hàng hải phương Tây sớm hơn một thời gian. Tuy nhiên lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất đô thị - thương cảng Hội An đã diễn ra rất lâu đời và có thể khái quát thành 3 thời kỳ: Tiền - Sơ sử; Champa; Đại Việt - Đại Nam - Việt Nam.

      - Thời Tiền - Sơ sử (Trước công nguyên - thế kỷ thứ 2): Lịch sử thương cảng Hội An có thể khởi đầu từ thời kỳ Sa Huỳnh muộn (khoảng từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên đến cuối thế kỷ thứ 2 sau công nguyên). Các di tích, di chỉ khảo cổ học Hậu Xá, An Bang, Xuân Lâm với các loại tiền đồng, đồ trang sức bằng đá, mã não, các hiện vật sắt kiểu Tây Hán,… cho thấy rằng ngay từ thời kỳ Văn hóa Sa Huỳnh vùng đất này đã có sự giao thương với các nền văn hóa Trung Hoa và từ các khu vực Bắc và Nam Việt Nam ngày nay. Một cảng thị sơ khai đã phôi thai ở vùng đất Hội An ngày nay ngay từ thời Tiền - Sơ sử cách đây hơn 2000 năm.

      - Thời Champa (thế kỷ 2 - thế kỷ 15): Thời kỳ này vùng đất Hội An được biết đến với các tên Lâm Ấp phố (bến cảng của nước Lâm Ấp), San-pu-lô (Chăm pu lô (Cù Lao Chàm)). Nhiều di chỉ, di tích khảo cổ học ở Bãi Làng (Cù Lao Chàm); Bàu Đà (Cẩm Thanh); Đồng Nà (Cẩm Hà) cho thấy vào thế kỷ 7 đến thế kỷ 10 tại vùng đất Hội An đã hình thành các bến cảng của Champa buôn bán rất phát triển với sự có mặt của các đồ gốm sứ điển hình như gốm Islam (Trung Cận Đông), Việt Châu, Định Châu, Hồ Nam (Trung Quốc), đồ thủy tinh cao cấp (Ba Tư, Ả Rập)… Ngoài ra, một số dấu vết di tích kiến trúc, tượng, phù điêu đá Champa thế kỷ 9 -10 và nhiều hiện vật Champa sớm cũng đã tìm thấy, trong đó có 1 bình hình trứng đặc trưng của đồ gốm Champa. Nhiều tư liệu thư tịch cổ ghi nhận trong một thời gian dài thế kỷ 7 - 9, Chiêm cảng - Lâm Ấp phố tại khu vực Hội An ngày nay là một cảng thị quan trọng của Champa.

      - Thời Đại Việt - Đại Nam - Việt Nam (thế kỷ 15 đến nay): vùng đất Hội An thuộc về nhà nước Đại Việt với việc thành lập Thừa Tuyên Quảng Nam đạo của vua Lê Thánh Tông năm 1471. Kế thừa thành tựu của các lớp cư dân trước đó, cư dân Việt đã tiếp tục phát triển cảng thị Hội An lên một tầm vóc mới. Đến thế kỷ 16, 17 với chính sách mở cửa chú trọng phát triển kinh tế thương nghiệp - ngoại thương của các chúa Nguyễn, Hội An trở thành một thương cảng mậu dịch quốc tế nổi tiếng của Đàng Trong, Việt Nam với các tên gọi Haifo, Faifoo, Hội An… Thuyền buôn các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Xiêm La, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp hằng năm đến Hội An để buôn bán, trao đổi hàng hóa. Từ đầu thế kỷ 17 các chúa Nguyễn đã cho phép Trung Hoa, Nhật Bản, Hòa Lan, Bồ Đào Nha… lập các khu phố hoặc thương điếm để tiện việc buôn bán, trong đó ổn định nhất là hai khu phố của người Trung Hoa và Nhật Bản, tạo cho Hội An thành một đặc khu kinh tế mở ở Đàng Trong. Các tư liệu cho biết ngay từ cuối thế kỷ 16, các khách thương Nhật Bản có mặt đông đúc ở Hội An và có một khu vực cư trú gọi là Hoài Phố/Nhật Bản dinh, Tùng Bổn dinh… Các thương nhân Nhật Bản có vai trò quan trọng trong hoạt động mậu dịch tại Hội An lúc bấy giờ. Trong vòng 30 năm đầu thế kỷ 17 đã có 75 thuyền buôn được cấp giấy phép của Mạc Phủ Nhật Bản (Châu Ấn thuyền) cập bến Hội An (trong khi đó đến Đông Kinh (Đàng Ngoài) là 37 thuyền).

      Từ năm 1635 - 1636 do chính sách bế quan tỏa cảng (tỏa quốc) của chính quyền Nhật Bản, nhiều kiều dân Nhật ở Hội An phải về nước. Tuy vậy một số ít thương nhân Nhật vẫn ở lại Hội An, trong đó có người lấy vợ Việt và mất tại đây (tại Hội An hiện còn 3 ngôi mộ của thương nhân Nhật Bản).

      Thương nhân người Trung Hoa có mặt khá sớm ở Lâm Ấp phố của Champa và sau này là Hội An của Đại Việt. Từ đầu thế kỷ 17, khu phố của thương nhân Trung Hoa đã hình thành ở Hội An cùng với khu phố Nhật Bản. Do nhu cầu phát triển mậu dịch và cả các lý do về chính trị, người Hoa có mặt ngày càng nhiều ở Hội An. Sau khi người Nhật rút dần về nước thì người Hoa dần dần thay thế vai trò của người Nhật và trở thành những khách thương ngoại kiều chính ở thương cảng Hội An.

      Cùng với người Nhật, người Hoa, các thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp cũng đã đặt thương điếm hoặc lui tới buôn bán ở Hội An vào những thời điểm khác nhau, góp phần phát triển thương cảng Hội An thành một tụ điểm mậu dịch quốc tế sầm uất liên tiếp trong nhiều thế kỷ từ 16 - 18. 

      Bước vào thế kỷ 19 do sự bồi lấp của các dòng sông, cửa biển, sự phát triển của kỹ thuật hàng hải với việc tàu chạy bằng hơi nước thay cho các thuyền buồm, thương cảng Hội An dần mất vai trò và Đà Nẵng vươn lên thay thế. Năm 1888, Đà Nẵng trở thành một cảng biển chính của miền Trung, đưa hoạt động thương nghiệp - ngoại thương ở Hội An vào giai đoạn suy thoái. Tuy vậy, do nhiều cơ may Khu phố cổ Hội An, kết quả của quá trình phát triển sầm uất trước đây của thương cảng Hội An vẫn được bảo tồn với những dãy phố điển hình, những bến chợ, những công trình tín ngưỡng, dân dụng thể hiện sự giao lưu văn hóa giữa các thành phần cư dân Việt, Hoa, Nhật và phương Tây. Các sinh hoạt văn hóa tinh thần, các hình thức văn hóa phi vật thể gắn với tầng lớp thị dân có sự giao lưu tiếp biến văn hóa với nhiều nguồn gốc khác nhau từ phương Đông tới phương Tây cũng được lưu giữ đậm nét.

      3. Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

      3.1. Di sản văn hóa vật thể

      Tại Khu phố cổ Hội An hiện tồn tại 1.130 di tích gồm nhiều loại hình: đình, miếu, hội quán, nhà thờ tộc, giếng, cầu, nhà ở, chợ… Bên trong các di tích đó lại lưu giữ nhiều di vật, cổ vật có giá trị gắn với sự hình thành và phát triển thịnh vượng một thời của đô thị - thương cảng Hội An. Dưới lòng đất Khu phố cổ là những lớp văn hóa khảo cổ chứng minh sự phát triển liên tục của Khu phố cổ Hội An từ thời Champa cho đến ngày nay. 

      3.1.1. Di tích lịch sử, kiến trúc - nghệ thuật

      - Nhà ở: Chiếm tỉ lệ trên 85% các di tích tạo thành Khu phố cổ Hội An và là loại di tích tạo nên nét đặc trưng độc đáo của di sản thế giới. Những ngôi nhà cổ ở Hội An là sự đan quyện tài tình, sự hội nhập hài hòa của các phong cách kiến trúc Việt, Hoa, Nhật, Pháp và một số nước phương Tây. Bàn tay tài hoa của các thế hệ nghệ nhân địa phương đã dày công tạo tác, vận dụng sự đa dạng của các truyền thống kiến trúc từ nhiều nguồn gốc để tạo thành sự kết hợp hài hòa. 

      Nhà ở trong Khu phố cổ hầu hết là loại nhà phố, nhà của tầng lớp thị dân. Một ngôi nhà thường hẹp về bề ngang, dài về chiều sâu, thông hai mặt phố hoặc với bến sông và chia làm nhiều nếp: hiên, nếp nhà nơi buôn bán, nếp giữa - thờ tự, tiếp khách, thảo bạc nơi hóng mát, nhà cầu nối, sân trời, nếp nhà sau, nhà bếp, cổng sau. Một ngôi nhà phố được sử dụng vào nhiều chức năng: buôn bán, sinh hoạt gia đình, thờ tự, cho thuê, làm nhà kho, thư giãn…

      Nhà cổ ở Khu phố cổ Hội An được phân thành những kiểu chính sau:

      + Nhà 1 tầng, vách gỗ: Những nhà này có niên đại từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19. Các ngôi nhà loại này chủ yếu nằm trên đường Trần Phú.

      + Nhà 1 tầng với gác thấp, mái kiểu giật cấp, xây dựng khoảng cuối thế kỷ 19.

      + Nhà 2 tầng có mái hiên, xây dựng khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. 

      + Nhà 2 tầng tường gạch, xây dựng khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

      + Nhà 2 tầng kiểu Pháp, xây dựng khoảng đầu thế kỷ 20.

      - Giếng: Trong Khu phố cổ hiện tồn tại một hệ thống giếng cổ với số lượng lớn. Các giếng này hình thành vào những thời điểm khác nhau, có sự tiếp thu từ kỹ thuật xây giếng của người Chăm và gắn bó mật thiết với đời sống của các thế hệ dân cư địa phương.

Giếng Bá Lễ - Ảnh: Võ Hồng Việt

 

      - Cầu: Chùa Cầu, còn gọi là cầu Nhật Bản, Lai Viễn kiều, là chiếc cầu có mái che cổ kính, kiến trúc đặc sắc do người Nhật Bản khởi dựng vào đầu thế kỷ 17, sau đó được người Việt, người Hoa và người Pháp tu bổ nhiều lần. Cầu xây theo dạng hình vòm, có 7 nhịp bên dưới là lối đi lại, bên trên lợp mái ngói. Về sau, làm thêm phần miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ ở phía Bắc. Cấu trúc cầu và các chi tiết trang trí thể hiện sự kết hợp của các kiểu kiến trúc Việt Nam, Nhật Bản, Trung Hoa, phương Tây. Vì thế, có thể nói đây là biểu tượng của sự giao lưu giữa các nền văn hóa ở Hội An trong quá khứ và hiện tại. 

Chùa Cầu - Ảnh: Trần Quang Ngọc

 

      - Đình: Trong Khu phố cổ hiện tồn tại 03 ngôi đình làng của người Việt là đình Hội An, đình Cẩm Phô và đình Sơn Phong. Đây là 3 thiết chế sinh hoạt cộng đồng làng xã liên quan đến 3 làng xã/phường - nơi tọa lạc Khu phố cổ Hội An. Các ngôi đình này bên cạnh những yếu tố kiến trúc truyền thống còn có sự tiếp thu, vận dụng những yếu tố kiến trúc bên ngoài nên quy mô bề thế, kiểu dáng tráng lệ.