Di tích khảo cổ ở Hội An

      I. Quá trình phát hiện và nghiên cứu

      Trước năm 1985, các nhà khoa học trong và ngoài nước mới chỉ biết, viết về Hội An qua những nguồn tư liệu thư tịch, lịch sử và kết quả điều tra thực địa theo phương pháp sử học, dân tộc, fofklore,... bởi việc khảo cổ học hầu như chưa được tiến hành ở Hội An.

      Tháng 7/1985, tại Hội thảo khoa học Quốc gia về Đô thị cổ Hội An, từ những kết quả điền dã khảo cổ bước đầu, thông qua hội thảo, các nhà khoa học Việt Nam đã đề ra một chương trình nghiên cứu toàn diện về Đô thị cổ Hội An (để chuẩn bị cho Hội thảo Quốc tế về Đô thị cổ Hội An tháng 3/1990), một chương trình điều tra, khảo sát khảo cổ học mới được triển khai chính thức. Chương trình này, có sự tham gia hợp tác của các nhà khảo cổ học ở Trung tâm Văn hóa Việt Nam (Trường Đại học Quốc gia Hà Nội), Bảo tàng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng () và Ban Quản lý Di tích Hội An. Có thể nói đây là một chương trình mở đầu cho khảo cổ học ở Hội An. Dựa vào cảnh quan địa lý, dấu vết của các dòng chảy cổ, sau một thời gian điều tra khảo sát, tháng 7/1989 đoàn khảo cổ học đã đào thám sát khảo cổ tại năm điểm gồm di chỉ Bàu Đà (Lăng Bà) - xã Cẩm Thanh; di tích mộ táng An Bang và di chỉ cư trú Thanh Chiếm, Hậu Xá I - phường Thanh Hà, di chỉ hội quán Triều Châu (chùa Âm Bổn) - phường Sơn Phong. Đặc biệt, cũng trong đợt này (7/1989) đoàn cũng đã phát hiện và giám định bước đầu khá nhiều vết tích kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, giếng cổ của thời kỳ cư dân Champa đó là: Vết tích kiến trúc ở An Bang, Thanh Chiếm (Thanh Hà), Lăng Bà (Cẩm Thanh); Tác phẩm điêu khắc: Bức tượng Voi trong đình Xuân Mỹ (ở Thanh Hà) niên đại thế kỷ VIII - IX, tượng Vũ Công Thiên Tiên - Gandharva trong miếu thờ "Thần Hời" (An Bang, Thanh Hà) niên đại thế kỷ IX, tượng Nam thần tài lộc Kubera ở Lăng Bà (Cẩm Thanh) niên đại cuối thế kỷ X, đầu tượng thần ở Hậu Xá (Thanh Hà) niên đại thế kỷ VIII, mảnh bia vỡ (mặt phải còn ba dòng chữ, mặt trái còn hai dòng chữ) niên đại khoảng thế kỷ X - XII. Đồng thời, hệ thống giếng cổ cũng được phát hiện khá nhiều, nằm dọc theo hạ lưu sông Thu Bồn, trong các khu dân cư, gần bên các vết tích kiến trúc Champa. Đây là những giếng nước được làm từ thời cư dân Champa, đã trải qua nhiều lần tu sửa hoặc được làm theo kiểu thức của cư dân Champa bởi cư dân Đại Việt từ lâu đời. 

      Tiếp theo và trên một quy mô rộng lớn hơn bao gồm các bước điều tra, đào thám sát, khai quật khảo cổ học trên toàn địa bàn Hội An hiện nay (kể cả những địa điểm đã phát hiện trước đây) theo dự án "Khai quật khảo cổ học về di tích văn hóa mộ chum Sa Huỳnh ở thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng) do quỹ của TOYOTA FOUNDATION (Nhật Bản) tài trợ từ năm 1993 - 1995. 

      Kết quả ba năm điền dã, khảo sát đã phát hiện được trên toàn bộ vùng đất cửa sông - ven biển Hội An đều có dấu tích văn hóa Sa Huỳnh và đã đào thám sát, khai quật tại bốn điểm di tích mộ táng: An Bang, Hậu Xá I, Hậu Xá II (Thanh Hà), Xuân Lâm (Cẩm Phô). Đó là những khu mộ táng chum đất nung. Năm điểm di chỉ cư trú: Hậu Xá I, Trảng Sỏi và Thanh Chiếm ở Thanh Hà, Đồng Nà ở Cẩm Hà, Bàu Đà (Lăng Bà) ở Cẩm Thanh).

      Các khu di tích mộ táng có số lượng mộ chum khá dày đặc (tổng số 73 chum được xác định trên diện tích 129m2). Với khá nhiều hiện vật tùy táng gồm có: Đồ gốm gia dụng: bát, đĩa, nồi, "đèn Sa Huỳnh", cốc, bình... Đồ trang sức: khuyên tai (3 mấu, vành khăn), vòng đeo tay, hạt chuỗi... chất liệu thủy tinh, đá (có hồng mã não, Nephrite, Crystal, agate, phiến sét). Đồ sắt: Dao, rựa, rìu, đục... Dọi xe chỉ: bằng đất nung (để xe chỉ dệt vải). Tiền đồng: Ngũ Thù, Vương Mãng (của Trung Quốc). 

      Các di chỉ cư trú với tầng văn hóa khá rõ và ổn định. Ở lớp dưới có nhiều mảnh đồ đựng đã được sử dụng, gồm các loại gốm thô Sa Huỳnh, Sa Huỳnh - Chăm (gốm mịn, màu nâu đỏ, vàng nhạt hoặc xám mốc, văn chải, thừng mịn hoặc in ô vuông, phong cách Hán, Trung Quốc). Niên đại từ thế kỷ II - III, IV sau Công nguyên. Ở lớp trên với nhiều mảnh gốm Chăm, sứ, bán sứ Trung Quốc, Islam, Việt Nam thể hiện rất rõ sự nối tiếp dân cư, văn hóa từ thế kỷ III, IV - XI, XV. 

      Bằng những chứng cứ hiện vật khảo cổ từ trong lòng đất Hội An, tham chiếu, đối sánh với những di tích khảo cổ học khác ở trong nước và khu vực cùng với kết quả của nhiều phương pháp xét nghiệm, giám định niên đại, tại hội thảo khoa học về văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An tháng 11/1995 các nhà khảo cổ học đã thống nhất kết luận:

      Mảnh đất Hội An là nơi tập trung nhiều nhất, đậm đặc nhất của văn hóa Sa Huỳnh thuộc giai đoạn muộn, cách ngày nay khoảng hơn 2.000 năm. Nét đặc trưng cho các di tích ở đây là sự hiện diện của những đồng tiền Ngũ Thù, Vương Mãng (Trung Quốc), chất nhựa kết dính giữa nắp và miệng chum, hay than tro, xương trong đáy mộ chum hoặc những hiện vật sắt kiểu Tây Hán, dáng dấp kiểu Đông Sơn, Óc Eo và trong khu vực rộng hơn ở Đông Nam Á. Đặc biệt ở chuôi (cán) một số hiện vật sắt còn để lại dấu vết gỗ, vải khá rõ nét. Trong các di chỉ cư trú, tuy mang tính chất khác nhau giữa các điểm (bến, chợ ven sông, điểm thờ cúng nơi cư trú), nhưng hiện vật trong các lớp văn hóa đều đồng nhất, thể hiện sự chuyển tiếp từ văn hóa Sa Huỳnh sang văn hóa Champa. Mặt khác, cũng thể hiện rất rõ mối quan hệ, giao lưu văn hóa trong nước và trong khu vực. Có thể nói, từ thời Sa Huỳnh, Hội An đã là một tiền cảng thị (pre - port town) hay một cảng thị sơ khai (embryonnary port town) và chắc chắn là tiền đề cho sự hình thành tiểu vương quốc ở khu vực miền Trung Việt Nam. Với nền văn hóa Sa Huỳnh muộn (cổ điển), ở đây đặt ra nhiều vấn đề khoa học lý thú về sự phát triển, chuyển tiếp từ văn hóa Sa Huỳnh lên văn hóa Champa, về táng thức, diện mạo thiết chế kinh tế, văn hóa, xã hội của cư dân thời kỳ này. 

      Song song với chương trình dự án "Khai quật khảo cổ học về di tích văn hóa mộ chum Sa Huỳnh ở thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng), từ năm 1993 - 1995 là chương trình điều tra, thám sát và khai quật tìm hiểu về các lớp kiến trúc, dân cư ở trong khu vực Khu phố cổ Hội An hiện nay của Trung tâm hợp tác nghiên cứu văn hóa Quốc tế, Trường đại học Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản). 

      Tháng 9/1993, các nhà khảo cổ học đã tiến hành đào thám sát tại các sân sau hoặc trước của các nhà 65, 69, 78, 80, 85, 144 đường Trần Phú - tức là dãy phố trung tâm của khu phố cổ Hội An hiện nay. Kết quả thông qua hiện vật cho thấy, ở đây chỉ có dấu vết dân cư, kiến trúc từ thế kỷ XVIII - XX. Nghĩa là chưa tìm thấy dấu vết phố cổ ở phía Nam đường Trần Phú (hiện nay) vào thế kỷ XVI, XVII. 

      Từ tháng 01 - 8/1994, các nhà khảo cổ học tiếp tục đào thám sát và khai quật khảo cổ tại các vị trí về phía Tây của Khu phố cổ hiện nay đó là: Đình Cẩm Phô - số 52 Nguyễn Thị Minh Khai, đình ấp Tu Lễ - số 169 Trần Hưng Đạo, nhà số 69/5 Phan Châu Trinh, Trường Trung học cơ sở Nguyễn Duy Hiệu - số 79 Phan Châu Trinh, Nhà số 129 Phan Châu Trinh. 

      Từ năm 1998 đến năm 2000, khảo cổ học ở Hội An tiếp tục thu được nhiều kết quả tốt đẹp liên quan đến thời kỳ Tiền Sa Huỳnh và Champa. Trong đó đáng quan tâm là việc phát hiện di chỉ Ruộng Đồng Cao (khu vực I - Cẩm Phô), di chỉ Bãi Ông, di chỉ Bãi Làng ở Cù Lao Chàm, xã Tân Hiệp. 

      Liên tiếp các năm 1997, 1998 và 1999, các nhà khảo cổ học Việt Nam cùng các chuyên gia khảo cổ học, sử học của Đại học Oxford (Anh), KeBang Sean (Malaysia), Cộng hòa Séc, với sự liên doanh đầu tư của công ty Saga (Malaysia) và Visal (Việt Nam), các công ty chuyên trục vớt tàu đắm tiến hành khai quật tàu đắm khảo cổ ở vùng biển Cù Lao Chàm. Theo báo cáo của Ban khai quật khảo cổ tàu đắm tại vùng biển Cù Lao Chàm cho biết: Đã khai quật được hơn 278.000 hiện vật chủ yếu là đồ gốm Việt Nam (sản xuất tại Chu Đậu, Hải Dương), một số ít của Trung Quốc và một số vật dụng khác có niên đại vào thế kỷ XV. 

      Năm 2006, Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa, Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Bảo tàng tỉnh Quảng Nam, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An đã tiến hành khảo cổ tại các địa điểm: Nhà thờ tộc Tăng - số 16 Nguyễn Thị Minh Khai, Trường Phổ thông Trung học Trần Quý Cáp - số 3 Trần Hưng Đạo, Nhà số 76/18 Trần Phú, địa điểm phía đông Chùa Cầu. 

      Kết quả khảo cổ học ở Hội An trong những năm qua đã tạo cơ sở cho sự hình thành ba Bảo tàng chuyên đề ở Hội An: Bảo tàng lịch sử - văn hóa, Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh, Bảo tàng gốm sứ mậu dịch. Đây là những minh chứng về kết quả mà các nhà khảo cổ học đã đạt được ở Hội An trong những năm qua. Trên cơ sở này, các nhà khảo cổ học có thể dựng lại một cách khái quát tiến trình lịch sử của Hội An từ thời Tiền - Sơ sử với nền văn hóa Sa Huỳnh, được kế tiếp bởi văn hóa Champa, Đại Việt - Đại Nam. Trong suốt quá trình đó, tuy sự hưng thịnh có khác nhau ở mỗi thời kỳ, Hội An vẫn luôn đóng vai trò là giao điểm trung chuyển mậu dịch, giao lưu văn hóa của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Sự xuất hiện của gốm sứ Islam, gốm sứ Trung Quốc (từ các lò Việt Châu, Trường Sa, Long Tuyền và các lò ở tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông...) và Nhật Bản (Hizen) vào các thế kỷ IX - X đến thế kỷ XVI - XVII càng khẳng định thêm vai trò của Đô thị thương cảng Hội An 

      Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa phải là nhiều so với thực tế bề dày lịch sử vốn có của một Đô thị thương cảng cửa sông - ven biển. Còn khá nhiều vấn đề khoa học được đặt ra cho từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử, kể cả sự chuyển tiếp của nó. Đặc biệt là vấn đề sự chuyển hóa tiếp nối từ văn hóa Sa Huỳnh lên văn hóa Champa và vai trò của Đô thị thương cảng Hội An đối với con đường gốm sứ mậu dịch trên biển ở khu vực Đông Nam Á mà kết quả khảo cổ học ở Hội An trong những năm qua đã cho nhiều dấu hiệu, thông tin khoa học quý giá. Cho nên, chắc chắn những kết quả này, mới chỉ khai phá bước đầu, làm cơ sở cho khảo cổ học ở Hội An với nhiều niềm tin đầy hứa hẹn, hấp dẫn và lý thú. Bởi tiếp tục khảo cổ học ở Hội An sẽ tiếp tục thu được nhiều thông tin khoa học quan trọng không chỉ đối với ngành khảo cổ học mà cả ngành khoa học xã hội nói chung ở Việt Nam và trong khu vực.

      II. Thông tin về những di tích khảo cổ học ở Hội An

      1. Di tích Bãi Ông: Phân bố tại Bãi Ông - Cù Lao Chàm, xã đảo Tân Hiệp. Được phát hiện đào thám sát tháng 5/1999; khai quật tháng 6/2000 (25m2). 

      Tại di tích này, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được khá nhiều hiện vật gốm thô (đất nung), hiện vật đá, công cụ mài như rìu tứ giác ngắn, rìu có vai, lưỡi ghè, bàn mài nhiều loại; công cụ từ chất liệu cuội: Hòn kê, chày, hòn đập, bàn nghiền, dụng cụ miết gốm, chì lưới,... hoặc răng hàm cá, kim bằng xương, mảnh nhuyễn thể, hạt cây, than tro... Chúng được nằm trong tầng văn hóa ổn định, có niên đại xác định bằng phương pháp các-bon phóng xạ qua mẫu than (C14): 3.100 ± 60BP (tức là cách ngày nay khoảng hơn 3.000 năm). Di tích được xếp hạng cấp quốc gia năm 2006.

 

      2. Di tích An Bang: Phân bố tại khối An Bang, phường Thanh Hà (tọa độ: 15052’57’’ vĩ Bắc, 108018’30’’ kinh Đông). Được phát hiện, đào thám sát tháng 7/1989 (30m2); khai quật tháng 5/1995 (26m2). 

      Tại di tích đã phát hiện được một số lượng lớn các mộ chum, cùng các hiện vật đồ gốm gia dụng, đồ minh khí, đồ trang sức bằng thủy tinh, đá. Qua đặc điểm phân bố hiện vật cho thấy táng tục, táng thức của cư dân Sa Huỳnh tại địa điểm này có nhiều điểm tương đồng với di tích Hậu Xá. Di tích có niên đại C14 là: 2260 năm ± 90BP (cách ngày nay). Di tích được xếp hạng cấp tỉnh năm 2005.

 

      3. Di tích Hậu Xá II: Phân bố tại khối Hậu Xá, phường Thanh Hà, (tọa độ: 15052’75’’ vĩ Bắc, 108018’99’’ kinh Đông). Được phát hiện, đào thám sát tháng 10/1993 (11m2) và khai quật tháng 5/1994 (32m2). 

      Di chỉ có mật độ phân bố mộ chum dày, kiểu dáng phong phú, đồ tùy táng nhiều loại hình. Đặc biệt, phát hiện được xương động vật, răng trẻ em và dạng táng bằng chum lồng. Ngoài ra, còn tìm thấy được tiền Ngũ Thù, Vương Mãng đời Hán - Trung Quốc. Qua đó thể hiện cư dân Sa Huỳnh tại đây có nhiều táng tục đặc biệt, giao lưu thương mại rộng rãi với văn hóa Trung Hoa cùng thời. Di tích có niên đại C14 là: 2040 năm ± 60BP (cách ngày nay). Di tích được xếp hạng cấp tỉnh năm 2008.

 

      4. Di tích Hậu Xá I: Phân bố tại khối Hậu Xá, phường Thanh Hà, (tọa độ: 15053’05’’ vĩ Bắc; 108019’01’’ kinh Đông). Được phát hiện, đào thám sát các năm 1989, 1990, 1993 và khai quật năm 1994, 1995 với tổng diện tích là 70,5m2. 

      Di tích bao gồm khu mộ táng và khu cư trú. Hiện vật tìm thấy là bộ sưu tập đồ công cụ sản xuất bằng sắt, đồ tùy táng có số lượng lớn, phong phú về loại hình, chất liệu, kiểu dáng, đặc biệt là gốm dân dụng và đồ trang sức chất liệu quý. Vấn đề đáng lưu ý là hiện tượng đập vỡ đồ gốm trước khi chôn trong phong tục mai táng của cư dân Sa Huỳnh. Dựa vào đặc điểm hiện vật có thể kết luận di tích có niên đại cách ngày nay 2000 năm. Di tích được xếp hạng cấp tỉnh năm 2008.

 

      5. Di tích Xuân Lâm: Phân bố tại khối Xuân Lâm, phường Cẩm Phô (tọa độ: 15052’51’’ vĩ Bắc; 108019’39’’ kinh Đông). Được phát hiện, khai quật tháng 3/1995 (13,5m2). 

      Hiện vật tìm thấy bao gồm: Mộ chum, đồ gốm gia dụng, minh khí, đồ trang sức đá, thủy tinh và bộ sưu tập về công cụ sản xuất bằng sắt. Riêng bộ công cụ sắt cho thấy rõ dấu ấn sinh hoạt trong môi trường sống ven sông cận biển của chủ nhân di tích mộ táng Xuân Lâm ở Hội An. Di tích có niên đại cách ngày nay 2000 năm.

 

      6. Di tích Thanh Chiếm: Phân bố tại khối Thanh Chiếm, phường Thanh Hà (tọa độ: 15052’58’’ vĩ Bắc, 108018’36’’ kinh Đông). Được phát hiện, đào thám sát tháng 7/1989, khai quật tháng 8 năm 2019 (với tổng diện tích là 30,5m2). Hiện vật phát hiện được trong di tích có chum gốm và đồ gốm gia dụng, minh khí, dụng cụ và vũ khí bằng sắt, đồ trang sức bằng mã não, thủy tinh, đá thuộc văn hóa Sa Huỳnh, gốm Chăm và gốm sứ Trung Quốc (lò Phúc Kiến, Quảng Đông, Cảnh Đức Trấn...); Nhật Bản (lò Hizen); gốm đất nung Thanh Hà (Hội An). Di tích chứng minh về mật độ cư trú đông đảo của cư dân Sa Huỳnh ở Hội An. Với sự góp mặt của gốm sứ nhiều thời đại đã chứng tỏ từ rất sớm tại nơi đây là vùng bến sông có cư dân sinh sống và giao lưu buôn bán phát triển từ thế kỷ I đến thế kỷ XVII, XVIII sau Công nguyên.

      7. Di tích Đồng Nà: Phân bố tại thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà (tọa độ: 15054’17’’ vĩ Bắc, 108019’16’’ kinh Đông). Được phát hiện, đào thám sát tháng 6/1994 (14m2); khai quật tháng 6/1994 (4m2). Di tích có tầng văn hóa mỏng nhưng kết cấu ổn định, hiện vật đồng nhất. Bộ sưu tập hiện vật gốm có nhiều điểm giống gốm ở di tích Trà Kiệu, Hậu Xá I đồng thời có biểu hiện diễn biến về chất liệu, kỹ thuật gốm hơi thô sang mịn, niên đại di tích từ thế kỷ I đến thế kỷ III, IV sau Công nguyên.

 

      8. Di tích Ruộng Đồng Cao: Phân bố tại khối Lâm Sa, phường Cẩm Phô (tọa độ: 15052’98’’ vĩ Bắc; 108019’13’’ kinh Đông). Được phát hiện, đào thám sát tháng 5/1998 và tháng 8/2009, khai quật 9/2018 với tổng diện tích 34m2. 

      Hiện vật phổ biến trong di tích là gốm gia dụng, gạch, chất liệu gốm hơi mịn, đồ án trang trí chủ yếu là hoa văn ô vuông thời Hán. Ngoài ra, còn có những hạt chuỗi thủy tinh, đĩa đồng thời Hán. Tầng văn hóa mỏng, khá đồng nhất. 

      Dựa vào vị trí địa lý, địa tầng cho thấy nơi đây là nơi cư trú, giao lưu buôn bán bên thềm sông cổ của cư dân Champa vào khoảng thế kỷ III, IV sau Công nguyên.

 

      9. Di tích Trảng Sỏi: Phân bố tại khối Hòa Yên, phường Thanh Hà (tọa độ: 15053’06’’ vĩ Bắc; 108017’51’’ kinh Đông). Được phát hiện, đào thám sát tháng 11/1994 (12m2). 

      Hiện vật trong di tích có sự diễn biến ổn định từ sớm đến muộn ở hai tầng văn hóa và không có sự khác biệt về địa tầng. Tầng văn hóa I tập trung nhiều đồ gốm, sứ, bán sứ Trung Quốc (thời Đường), Islam, Việt Nam. Tầng văn hóa II có nhiều gốm Chăm thô, hơi thô. 

      Qua vị trí địa lý và sự phân bố hiện vật trong di tích cho thấy đây là điểm tụ cư, buôn bán ven sông thời kỳ Champa từ thế kỷ III - IV đến thế kỷ XIII - XIV sau Công nguyên. Di tích được xếp hạng cấp tỉnh năm 2005.

 

      10. Di tích Bãi Làng: Phân bố tại thôn Bãi Làng - Cù Lao Chàm, xã đảo Tân Hiệp (tọa độ: 15015’15’’ vĩ Bắc; 108023’10’’ kinh Đông). Được phát hiện, đào thám sát tháng 5/1997 và tháng 5/1998; khai quật tháng 5/1999 với tổng diện tích là 13,7m2. Ở di tích Bãi Làng đã tìm thấy được nhiều hiện vật gốm, sành, sứ Champa, Trung Quốc, Trung Cận Đông cùng nhiều đồ trang sức thủy tinh, đá, mã não. Xuất hiện nhiều dấu vết sản xuất thủy tinh nội địa của cư dân Champa ở Bãi Làng. Từ vị trí địa lý, hiện vật và thư tịch cổ cho thấy đây là điểm dừng chân, trao đổi thương mại của các thương thuyền quốc tế thời kỳ Champa từ thế kỷ VII, VIII - X sau Công nguyên. Di tích được xếp hạng cấp quốc gia năm 2006. 

 

      11. Di tích Bàu Đà: Phân bố tại thôn Võng Nhi, xã Cẩm Thanh. Được phát hiện, đào thám sát tháng 10/1993(20m2), khai quật tháng 6/1994 (180m2). Hiện vật gốm sơ kỳ kim khí xuất hiện trong di chỉ không nhiều, chủ yếu là đồ gốm sứ Trung Quốc, Trung Cận Đông và miền Bắc Việt Nam. Ngoài ra, tại đây còn có nhiều tiền đồng Việt, Hoa, Nhật. Từ vị trí và hiện vật tìm được cho thấy: Bàu Đà là nơi dừng đậu tàu thuyền, trao đổi thương mại từ thế kỷ IX - X đến thế kỷ XVI - XVIII sau Công nguyên. 

      12. Di tích Nhà số 85 đường Trần Phú: Phân bố tại nhà số 85 trần Phú, phường Minh An. Được thám sát tháng 3/1993 và khai quật tháng 9/1993 (với diện tích 8m2). Trong di chỉ phát hiện được dấu vết nền nhà cổ và nhiều mảnh gốm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam thế kỷ XVIII sau Công nguyên. 

      13. Di tích nhà số 129 đường  Phan Châu Trinh: Phân bố tại nhà 129 Phan Châu Trinh, phường Cẩm Phô. Được thám sát tháng 11/1994 (6m2). Nơi đây phát hiện được dấu vết một nền nhà cổ và một lượng gốm sứ Trung Quốc, Nhật Bản (lò Hizen), gốm sành Việt Nam thế kỷ XVII - XIX. Khu vực này chưa tìm thấy dấu vết cư trú ở thế kỷ XVI - XVII sau Công nguyên.

      14. Di tích Đình Cẩm Phô: Phân bố tại số 52 đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Cẩm Phô (cách Chùa Cầu khoảng 200m về phía Tây). Thám sát 3 đợt, 2 đợt vào năm 1994, 1 đợt vào tháng 7/1995 với tổng diện tích 19m2. Tại đây phát hiện gốm sứ Nhật Bản (lò Hizen); Trung Quốc (các lò Cảnh Đức Trấn, Phúc Kiến, Quảng Đông); gốm sành Việt Nam; và đồ gốm sứ Thái Lan... Khung niên đại di tích vào thế kỷ XVI - XVII sau Công nguyên. 

 

      15. Di tích Đình ấp Tu Lễ: Phân bố tại số 169 đường Trần Hưng Đạo, phường Cẩm Phô (cách Chùa Cầu khoảng 250m về phía Tây). Khai quật tháng 1/1994 (8m2). Tại đây đã phát hiện dấu vết của một bếp cổ có đồ gốm sứ Nhật Bản (lò Hizen); Trung Quốc; gốm sành Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII. Đây là khu vực dân cư từ thế kỷ XVII - XVIII sau công nguyên (tính từ điểm di tích này về phía Đông Nam). 

      16. Di tích Trường Trung học Nguyễn Duy Hiệu: Nằm ở phía Nam đường Phan Châu Trinh, phường Minh An. Được thám sát tháng 3/1999 (5m2).  Hiện vật phổ biến trong di chỉ là gốm sứ Trung Quốc thời Minh, Thanh; gốm, sành, đất nung của Việt Nam; không tìm thấy hiện vật có niên đại từ thế kỷ XVI trở về trước. Qua kết quả khai quật cho thấy di tích có niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX sau Công nguyên.