Chùa Cầu Hội An

Trải qua khoảng 400 năm lịch sử, Chùa Cầu (Hội An) đã đươc tu bổ nhiều lần, các thế hệ cư dân Hội An đã hết lòng quan tâm gìn giữ chu đáo để đến ngày hôm nay những giá trị độc đáo của di tích Chùa Cầu vẫn được vẹn nguyên. Chùa Cầu đã trở thành biểu tượng về di sản kiến trúc Hội An, là địa chỉ du lịch không thế bỏ qua đối với du khách mỗi dịp tham quan phố cổ Hội An - Di sản văn hóa thế giới bên bờ sông Hoài thơ mộng.

      Một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc biệt

      Trong thời kỳ Châu Ấn thuyền (1592-1635), thương nhân Nhật Bản đến Hội An buôn bán ngày càng nhiều. Được sự cho phép của chúa Nguyễn, người Nhật đã lập nên khu phố riêng bên cạnh khu phố người Hoa để buôn bán và lưu trú như miêu tả của C.Borri trong bản tường trình về Xứ Đàng Trong năm 1621[1]. Tương truyền, để thuận tiện trong việc đi lại và buôn bán, các thương nhân Nhật Bản đã xây dựng nên chiếc Cầu có mái che vào khoảng cuối thế kỷ 16 - đầu thế kỷ 17, do vậy mà có tên gọi là cầu Nhật Bản[2]. Trong bia Trùng tu Lai Viễn kiều ký lập năm Gia Long Đinh Sửu (1817) có đoạn: “Minh Hương Hội An phố giới ư Cẩm Phô hữu khê yên, khê hữu kiều cổ dã; tương truyền Nhật Bản quốc nhân sở tác” (nghĩa là: Làng Minh Hương ở phố Hội An, giáp giới Cẩm Phô có một khe nước, khe có cầu, cầu ấy đã lâu. Tương truyền cầu do người Nhật Bản dựng nên)[3]. Kết quả khai quật khảo cổ tại phía Đông chùa Cầu vào năm 2006 đã phát hiện dấu vết trụ, ván lát có niên đại khoảng cuối thế kỷ 16 được các nhà nghiên cứu đoán định là dấu tích tiền thân của Chùa Cầu. Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu tuần du phương Nam, xa giá đến phố Hội An, thấy cảnh khách thập phương đến buôn bán tấp nập tại Chùa Cầu bèn ban tên 來 遠 橋 (Lai Viễn kiều)[4], viết chữ và khắc biển vàng ban cho[5]. Hiện nay tấm bảng này vẫn còn treo ở Chùa Cầu, là một hiện vật quý của Hội An xứng đáng được công nhận bảo vật quốc gia theo như ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu tại hội thảo về tu bổ di tích Chùa Cầu năm 2016.

 

Chùa Cầu - Ảnh: Quang Ngọc

 

      Là một công trình kiến trúc kiểu “thượng gia hạ kiều” kết hợp với miếu thờ hết sức độc đáo[6] được bắc qua khe nước sâu nên từ thế kỷ 19, Chùa Cầu đã được Quốc sử quán triều Nguyễn ghi danh trong Đại Nam nhất thống chí: “Cầu Lai Viễn: Ở xã Cẩm Phố (Phô) về phía Tây phố Hội An huyện Diên Phước, nước khe chảy về phía Nam đổ vào sông cái, cầu bắc ở trên. Tương truyền cầu này do người khách buôn Nhật Bản bắc, dưới cầu xây đá, trên lát ván, gác mái gồm bảy gian lợp ngói, hai bên cầu bày hàng mua bán, nên gọi là cầu ngói”[7]. Miêu tả về kiểu kiến trúc độc đáo của Chùa Cầu, bia Trùng tu Lai Viễn Kiều ký có đoạn khắc “Kiều thượng giá ốc, ốc hạ liệt bản thản nhiên nhược lý bình địa, hành giả an, lao giả tức, du giả nghi thừa lương, nghi bằng thiếu, nghi lâm lưu nhi phú thi, giai kiều gian chi thắng khái dã” (nghĩa là: Trên cầu có mái lợp, dưới lát ván, đi lại thản nhiên như trên đất bằng; hành khách đi qua cầu yên ổn, nhọc thì ngồi nghỉ thở, khách du đến đây hứng gió mát, tựa lan can ngắm xa soi dòng nước chảy mà ngâm thơ phú, toàn cảnh cầu có vẻ đẹp của một thắng cảnh)[8].

      Ngoài quốc sử của triều Nguyễn, sự đặc biệt và nổi tiếng của di tích Chùa Cầu đã được thể hiện, ghi chép qua nhiều tư liệu vào thế kỷ 17, 18. Có lẽ, hình vẽ về di tích Chùa Cầu sớm nhất được thể hiện trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá Công Đạo vẽ năm 1686 với hình cây cầu có mái che và dòng chữ bên cạnh đề 會 安 橋 (Hội An kiều). Trong một bài viết của linh mục Cadière đăng trong Những người bạn cố đô huế (BAVH), tập 7, xuất bản năm 1920 với tiêu đề Trên cầu Faifo thế kỷ XVII - Câu chuyện bi hài[9] đề cập đến câu chuyện diễn ra trên cầu Faifo (Chùa Cầu) vào khoảng thời gian năm 1673-1683 được giáo sĩ Bénigne Vachet thuật lại. Chùa Cầu cũng được thiền sư Thích Đại Sán nhắc đến trong Hải ngoại kỷ sự khi mô tả về phố Hội An vào năm 1695-1696: “Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập hợp của thương khách các nước; thẳng bờ sông, một con đường dài ba bốn dặm, gọi là đại đường cái, hai bên đường hàng phố liền nhau khít rịt (...). Cuối đường là cầu Nhật Bản, tức Cẩm Phố”[10]. Vào thế kỷ 18, nhiều hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích Chùa Cầu được ghi chép lại trong các tài liệu của xã Minh Hương ở Hội An như việc mua sắm các lễ vật, các lễ cúng trung nguyên, hạ nguyên, thượng nguyên,... tại đây. 

 

Chùa Cầu - Ảnh: Quang Ngọc

 

      Sự độc đáo, đặc trưng về mặt kiến trúc nghệ thuật cũng như tín ngưỡng của di tích Chùa Cầu được A.Sallet nhìn nhận và miêu tả khá kỹ ở bài viết đăng trong Những người bạn cố đô Huế (BAVH), tập 6, xuất bản năm 1919 với tiêu đề Hội An cổ.

      “Cầu Nhật Bản, đối với người Âu, “Chùa Cầu” là tên gọi của người bản xứ, còn nó được chỉ chính thức trong các văn bản và các giấy tờ bằng chữ Hán, cái tên Lai Viễn.

      Đây là một cầu mái che, với nền móng và gầm cầu bằng vôi gạch. Bên cạnh phía Bắc có một công trình cao ở giữa suối, trên xây một chùa nhỏ. Hướng của cầu là Đông - Tây. Phần chính gồm một vòm giữa dài độ 3 mét và 2 vòm 2 bên.

      Phần giữa có lát bằng ván hẹp trên một chiều dài 8 mét và chiều rộng 3 mét dùng làm đường đi chính. Hai bên có những đường đi phụ cao hơn, còn cạnh bắc để bao cái miếu.

      Ở hai đầu cầu đều lát đá dài đến 4 mét và hết cả chiều rộng. Các đầu ấy dựa trên móng cầu gạch hẹp có thêm lối đi qua hình vòm chia lại hai nhịp phụ.(...) Tất cả chân cầu đỡ cái nền của chùa. Kết cấu đặc biệt của đầu cầu và của chùa chỉ bằng gạch. Mặt vào và mặt ra hai bên có trang trí hình trái cây (những quả phật thủ), giống như một vài thứ đầy cả cái bình phong khổng lồ của chùa bên cạnh gọi là chùa Bà Mụ. 

      Các đầu cầu có hai chỗ rào bằng gỗ nhọn, ở trong mỗi cái có tượng con vật hình như để bảo vệ canh gác cầu.(...)

      Đầu cầu, cầu và chùa có mái đặc biệt. Ở cầu thì mái có trần bằng xà chéo và đòn tay lộ ra, sơn màu đỏ. (...)

      Đoạn nổi cao lên phía nam được bảo về phía con ngòi một lan can cao. Con đường phía bắc vào cửa Tam Quan của chùa. Cửa giữa có bảng ghi: “Cầu Lai Viễn, chúa Vương quốc, pháp danh Thiên Túng hạ bút”.

      Chính để thờ Bắc đế (...) và pho tượng của Ngài đặt trên bàn thờ. Tượng ở tư thế ngồi, khuôn mặt lạnh lùng mơ màng hơn là chiến binh áo lộng lẫy thếp vàng. Người An nam cho pho tượng ấy có từ lâu đời bằng gỗ tốt.(...)

      Lễ tế vị thần này vào ngày 20 tháng 7. Lễ cử hành long trọng và ồn ào. Trong dịp lễ có để một chiếc thuyền mã lớn bằng giấy có đủ trang thiết bị và đốt sau khi lễ xong”[11]

      Hiện trạng Chùa Cầu dài 20,4m, rộng hơn 13m, cao 5,7m, bố cục mặt bằng kiểu chữ “丁” (đinh) gồm phía Nam là cây cầu có mái che nối liền trục giao thông chủ đạo của khu phố cổ, liền kề phía Bắc là ngôi miếu thờ Bắc Đế Trấn Vũ (Huyền Thiên Đại Đế) - vị thần trị thủy. Cầu và miếu có kết cấu khung gỗ, mái lợp ngói âm dương, sàn lát ván dày, được đặt trên những trụ đá vững chãi bắc qua mương nước chảy từ khe Ồ Ồ phía Bắc ra sông chính ở phía Nam. Hệ mái chùa Cầu cong nhẹ nhàng, được trang trí nhiều đề tài, chi tiết giàu giá trị mỹ thuật như đề tài mặt nhật, lưỡng long tranh châu, giao lá, các đĩa sứ men trắng vẽ lam, khuông hoa văn đất nung... Hệ vì kèo kiểu trính chồng trụ đội có kết hợp với kiểu đấu củng độc đáo. Nội thất chùa Cầu thoáng rộng, được trang hoàng tôn nghiêm bởi những cặp liễn đối, các bức chạm trổ trên vách và đặc biệt là cặp mắt cửa huyền bí đặt đố cửa vào ngôi miếu, đỡ bên trên là bức biển Lai Viễn kiều do Quốc chúa Thiên túng đạo nhân Nguyễn Phúc Chu ban tặng. Trang trọng giữa nội thất ngôi miếu thờ là bàn thờ Bắc Đế Trấn Vũ đứng trên lưng con rùa, tay ấn trên thanh kiếm... Ngoài ra, ở hai bên lối vào phía Đông và phía Tây chùa Cầu còn thờ cặp tượng chó (linh cẩu) và khỉ (thần hầu).

      Chính vì sự đặc biệt, độc đáo về kiến trúc nghệ thuật cũng như tín ngưỡng nên Chùa Cầu đã được triều Nguyễn liệt hạng cổ tích An Nam vào năm 1925[12]. Đến năm 1990, Chùa Cầu là 1 trong 3 di tích riêng lẻ đầu tiên ở Hội An được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cấp bằng xếp hạng di tích cấp quốc gia. Đặc biệt, năm 2006, hình ảnh Chùa Cầu in trên đồng tiền polyme mệnh giá 20.000Đ như một lần nữa khẳng định và tôn vinh giá trị lịch sử - văn hóa nổi bật của di tích Chùa Cầu. Sự đặc biệt và nổi tiếng của di tích Chùa Cầu đã tạo nguồn cảm hứng vô tận cho những sáng tác thơ ca, nhiếp ảnh hơn một thế kỷ qua.

 

Hội An đất chật người đông

Nhân tình thuần hậu lá bông đủ màu

Dạo từ sông trước xóm sau

Dưới thời Âm Bổn, Chùa Cầu bên trên.

 

      Những biến đổi qua các lần tu bổ

      Trong khoảng 4 thế kỷ qua, do nằm ở vị trí đặc thù, nên ngoài tác động của con người trong quá trình sử dụng, Chùa Cầu còn phải chịu sự tác động nặng nề bởi thiên tai bão lụt và mối mọt. Do vậy, dù được xây dựng kiên cố, kết cấu vững chắc nhưng Chùa Cầu vẫn không tránh khỏi sự xuống cấp thường xuyên. Qua những nguồn tư liệu có được cho biết, đến nay Chùa Cầu đã được tu bổ ít nhất 7 lần lớn nhỏ. Lần tu bổ đầu tiên đến nay được biết là vào năm Quý Mùi - 1763 do người đứng đầu xã Minh Hương là Trương Hoằng Cơ cùng toàn xã thực hiện. Đây cũng là năm tu bổ Quan Công miếu (chùa Ông) ở Hội An. Trong trát văn năm 1764 của xã Minh Hương ghi rằng: “Nay bổn xã có Lai Viễn kiều là một nơi có tiếng hệ thuộc. Đức vua trước đã ngự đến ban đề khuê chương sáng rỡ ngày nay vẫn còn. Trong thì thờ Phật nơi để thần nương, ngoài thì bày phố tiệm nơi cho người sinh nghiệp. Chỉ vì lâu năm chày tháng không khỏi hư nát. Nay trong xã có Duyên thủ Trương Hoằng Cơ đứng lên kêu gọi người thành tâm trong phố quyên góp trùng tu hơn một năm mới xong. Hiện tại thì miếu thờ rực rỡ, tượng Phật nguy nga, làm cho xã chúng tôi thêm phần quang rạng”.[13] Có lẽ trong lần tu bổ này, quy mô và kiểu dáng kiến trúc của Chùa Cầu được hoàn chỉnh như ngày nay. 

      Trong thế kỷ 19, Chùa Cầu được tu bổ ít nhất 2 lần theo tư liệu đề cập. Lần đầu vào năm Gia Long Đinh Sửu (1817) và một lần khác vào năm Tự Đức Ất Hợi (1875). Trong văn bia tu bổ vào năm Gia Long Đinh Sửu do Khê Đình Bá Đinh Tường Phủ viết có đoạn “Ngày nay gặp hội thanh bình, bán buôn đầy chợ, hành khách đầy đường nhộn nhịp ngựa xe thảy qua cầu ấy. 

       Nhưng việc đời hễ có nên thì có hư, cầu làm bằng gỗ lâu ngày bị mối mọt, nếu không tu bổ kịp thời không khỏi có điều trở ngại. Vì vậy viên chức trong làng tình nguyện kẻ của người công chung sức lo tu bổ lại. Công việc hoàn thành vào tháng Kỷ Dậu, năm Đinh Sửu.(...)

      Minh rằng: Qua con đường ấy khe nước làu làu; Trên nước bắc cầu ấy thật công đầu; Nay tu bổ lại, lòng tốt ơn sâu; Lại qua đây đó, đi chóng về mau; Được nhiều tiện lợi từ nay về sau.”

      Lần tu bổ năm Ất Hợi - 1875 do hương chức xã Minh Hương và những thương buôn tại Hội An thực hiện. Văn khắc Hán tự trên xà cò đề: Tự Đức nhị thập bát niên tuế thứ Ất Hợi Giáp Thân nguyệt Bính Thìn nhật Bính Thân bài Minh Hương xã hương quan hương trưởng bổn xã tịnh bổn phố quý thương đẳng đồng trùng tu.

      Dưới thời Pháp thuộc, Chùa Cầu được tu bổ lớn vào năm 1915 (tu bổ phần cầu) và năm 1917 (tu bổ miếu thờ Bắc Đế do bão làm hư hại). Hai lần tu bổ này được khắc ghi trong 3 bia đá và xà cò hiện còn tại di tích. Trong đó có bia đá ghi lại việc năm Ất Mão - 1915, chánh công sứ Lesterlin Galtier đã chuẩn xuất ngân để tu bổ di tích chùa Cầu, 02 bia đá còn lại ghi phương danh cúng tiền tu bổ. Xà cò ghi lại lần tu bổ năm 1917 như sau: Khải Định nhị niên tuế thứ Đinh Tỵ lục nguyệt cát nhật Minh Hương xã quan viên hương chức, ngũ bang bang trưởng tịnh thành phố chư quý thương đồng trùng tu. Trong lần tu bổ năm 1915, một số hạng mục và trang trí tại Chùa Cầu đã có những thay đổi so với trước đây. Điều này được thể hiện rõ trong miêu tả của A.Sallet ở bài viết đăng trong Những người bạn cố đô Huế (BAVH) năm 1919 cũng như tranh vẽ và ảnh chụp di tích trước năm 1915 và khoảng năm 1919. Gờ chỉ đắp ở mặt trước tường 2 bên Chùa Cầu bị đục bỏ và tô trát lại bằng phẳng, trang trí chữ 壽 (thọ) hai bên lối vào phía Đông Chùa Cầu được thay đổi thành quả phật thủ, và phía Tây được thay đổi thành quả lựu… Theo thông tin hồi cố vào năm 1986 của những vị cao niên ở phố cổ Hội An cho biết, trong lần tu bổ năm 1915, mặt cầu cũng được làm bằng phẳng để thuận tiện cho xe cộ qua lại.

      Khoảng gần 45 năm sau, vào năm 1962, Chùa Cầu tiếp tục được chính quyền tỉnh Quảng Nam tu bổ, thay thế và gia cố những cấu kiện bị mục nát. Bộ Quốc gia giáo dục có bản treo ở Chùa Cầu đề: “Cổ tích liệt hạng: Lai Viễn kiều. Cấm phá hoại di sản, dán giấy, vẽ và viết trên cổ tích, ai phạm pháp sẽ bị truy tố và trừng phạt theo luật lệ hiện hành về bảo tồn cổ tích viện khảo cổ”[14]

      Từ sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất cho đến nay, Chùa Cầu được tu bổ lớn 2 lần vào năm 1986 và 1996. Lần tu bổ vào năm 1986 do Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với UBND thị xã Hội An (nay là UBND thành phố Hội An) thực hiện. Hạng mục tu bổ gồm phần mái, sàn cầu. Trong quá trình tu bổ có 79 đoàn khách đến tham quan, trong đó có 39 đoàn khách nước ngoài. Đại sứ Ba Lan và nhân viên sứ quan cũng đến tham quan. Lần tu bổ này, các hạng mục và trang trí kiến trúc được giữ nguyên như vào đầu thế kỷ 20, riêng mặt cầu được nâng cong như thấy hiện nay là theo hồi ức của các vị cao niên ở phố cổ trong cuộc họp nhân chứng khi tu bổ. Dù mặt cầu hơi cong cao so với ảnh chụp vào đầu thế kỷ 20 mới sưu tầm được gần đây, nhưng có lẽ, sau hơn 35 năm, hình ảnh Chùa Cầu với mặt cầu cong đã in sâu trong ký ức của hơn một thế hệ cư dân Hội An và du khách bốn phương, hơn nữa cũng phù hợp với công năng và giảm tác động của dòng chảy lên di tích mỗi khi ngập lụt.  

      Năm 1996, Chùa Cầu tiếp tục được UBND thị xã Hội An tiến hành tu bổ với việc xây lại ½ trụ phía Tây và làm lại dầm tường phía Bắc. 

      Có thể thấy, dù ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, Chùa Cầu cũng luôn được chính quyền và nhân dân Hội An dành cho sự quan tâm đặc biệt để gìn giữ, bảo vệ cũng như phát huy tốt giá trị. Hiện nay, dự án tu bổ di tích Chùa Cầu đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định, việc tu bổ Chùa Cầu sẽ sớm được khởi công thực hiện bằng những giải pháp phù hợp để vừa đảm bảo hoạt động tu bổ được hiệu quả, chân xác, vừa đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu của nhân dân và du khách xa gần, mãi là biểu tượng di sản kiến trúc Hội An.


Tài liệu trích dẫn:

[1] C.Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Hồng Nhuệ-Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.92.

[2] Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, ban đầu phần cầu do người Nhật xây dựng để đi lại và trấn yểm, khi làng Minh Hương thành lập, vào năm 1653 mới xây dựng thêm ngôi miếu thờ Bắc Đế Trấn Vũ- vị thần trị thủy, tạo nên khối kiến trúc liên hoàn như hiện nay. Đến bây giờ vẫn chưa tìm thấy tư liệu nói về sự kiện này.

[3] Nhóm nghiên cứu Hội An (2014), Di sản Hán Nôm Hội An, tập 1 – Văn bia, Sở Thông tin Truyền thông Quảng Nam cấp phép xuất bản, tr. 185-192.

[4] Hai chữ Lai Viễn vốn lấy trong sách Luận Ngữ: “Hữu bằng tự viễn phương lai; bất diệt lạc đồ” (Có một người bạn từ phương xa đến, há chẳng đáng vui mừng hay sao)

[5] Lê Quang Định (1806), Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Phan Đăng dịch và chú giải), tái bản, Phân Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Huế, Nxb Thế giới và ThaiHabook xuất bản năm 2021, tr.290.

[6] Hoàng Việt nhất thống dư địa chí được biên soạn xong năm 1806 mô tả: “Cầu dài 8 tầm, rộng 2 tầm, tục gọi là cầu ngói(...); dưới cầu dựng trụ đá, phần trên đều bằng gỗ ván, gồm 9 gian lợp ngói, có biển đề ba chữ vàng là Lai Viễn Kiều 來遠橋, (...).  Hai bên cầu đều bày bán đủ các thứ hàng hóa. Sát cầu về phía Bắc có một gian nhà ngói, bên trong thờ Chân Võ Bắc Đế”

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 379.

[8] Nhóm nghiên cứu Hội An (2014), Di sản Hán Nôm Hội An, tập 1 – Văn bia, Sở Thông tin Truyền thông Quảng Nam cấp phép xuất bản, tr.185-192

[9] L.Cadière, Trên cầu Faifo thế kỷ XVII - Câu chuyện bi hài, Những người bạn cố đô Huế, tập VII, năm 1920, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, tr.445-456.

[10] Thích Đại Sán (1696), Hải ngoại kỷ sự, Viện Đại học Huế, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, xuất bản năm 1963, tr.154.

[11] A. Sallet, Hội An cổ, Những người bạn cố đô Huế, tập VI, năm 1919, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, tr.364-386.

[12] Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam thực lục Chính biên Đệ thất kỷ, Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 510-511.

[13] Trần Văn An, Nguyễn Chí Trung, Trần Ánh(2005), Xã Minh Hương với thương cảng Hội An thế kỷ XVII-XIX, Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam cấp phép xuất bản, tr.118

[14] Theo Hồ Ngận (1962), Quảng Nam xưa và nay, Nxb Thanh Niên, xuất bản năm 2003.

Tin liên quan