Mộ Cổ

      I. Khái quát về di tích mộ cổ ở Hội An

      Ít nơi nào hiện tồn số lượng mộ cổ nhiều như ở Hội An. Và cũng ít thấy ở đâu sự phong phú, đa dạng về đặc điểm loại hình, kết cấu, thành phần chủ nhân, tập quán tống táng lại được thể hiện rõ ở các ngôi mộ cổ tại Hội An. Những ngôi mộ này, một mặt, đã minh chứng sinh động quá trình phát triển liên tục của vùng đất Hội An muộn nhất cũng từ thế kỷ 1 trước Công nguyên đến nay cũng như về mối quan hệ giao lưu văn hóa sâu rộng giữa các thành phần cư dân gồm nhiều quốc tịch ở Hội An, về đặc điểm văn hóa mang tính địa phương - vùng. 

      Về niên đại, cho đến nay tại dãi cát phía Bắc Hội An đã phát hiện những khu di tích mộ táng thuộc thời kỳ Văn hóa Sa Huỳnh. Đó là những mộ chum nhiều kiểu dáng bên trong chôn theo những đồng tiền thời Tây Hán và Đông Hán thế kỷ 2 trước công nguyên đến thế kỷ 1, công cụ lao động bằng sắt, dao có chuôi tròn mang kiểu dáng dao Chiến Quốc, nồi nấu, bát cổ bồng các loại, khuyên tai ba mấu bằng đá, đồ trang sức phổ biến thời Sa Huỳnh, trước đó đã tìm thấy tại một số vùng khác ở Việt Nam và Đông Nam Á. 

      Điều khá lý thú ở chỗ, bên trên các mộ chum Sa Huỳnh là những di tích mộ cổ thuộc các thời kỳ muộn hơn. Hiện nay, tại dãi cát thuộc các xóm An Bang, Hậu Xá, Thanh Chiếm, Trường Lệ và một số cồn đất cao khác ven thành phố đã phát hiện trên hàng ngàn ngôi mộ có niên đại từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Nếu tiến hành điều tra, thống kê trên diện rộng con số này sẽ nhiều hơn và chính xác hơn. Riêng về những ngôi mộ thuộc thế kỷ 17 - 18, cũng đã thống kê được trên 100 ngôi. Đây là những mộ còn nguyên trạng các yếu tố cơ bản, nhất là bia, quynh, nấm và thành. 

      Bia mộ ở Hội An, do ảnh hưởng từ nhiều luồng văn hóa trong và ngoài nước, nhất là vùng Nam Trung Hoa nên có dáng vẻ riêng, phong phú về kiểu thức và đa dạng về phong cách, trang trí,... Bia tạc bằng đá, những mộ có niên đại trước thế kỷ 19 chuyên dùng loại sa thạch, từ thế kỷ 19 về sau phổ biến dùng loại cẩm thạch trắng. Bên cạnh các kiểu bia thông thường, đã tìm thấy những bia mộ kích thước 1,7m x 1m x 0,3m; bia mộ hình bán nguyệt... 

      Trong từng thời kỳ, trang trí bia mộ mang đặc điểm riêng, rất thống nhất về phong cách. Đây là một trong những cơ sở để xác định niên đại dựng bia. Trang trí bia mộ Hội An gồm 4 phần: lòng, diềm, đế, trán. Lòng các bia mộ thuộc thế kỷ 17 - 18 có chữ khắc sâu, rõ nét phân biệt với các bia mộ có niên đại muộn hơn. Ở một số ít mộ cổ Trung Hoa, Nhật Bản, lòng bia trang trí các hình đóa hoa, chữ triện, dơi... cách bố trí nội dung lòng bia, nhìn chung thống nhất qua các thời kỳ và ở các thành phần cư dân. Trên cùng là quốc hiệu hoặc quê quán người quá cố. Dòng bên hữu nhỏ hơn, ghi ngày tháng năm dựng bia. Số lượng chữ, cách ghi theo quy ước riêng phụ thuộc vào tập quán của mỗi thành phần cư dân. Các quốc hiệu thường gặp ở bia mộ người Việt: Đại Việt, Hoàng Việt, Nam Cố, Việt Nam, An Nam... Ở bia mộ Trung Hoa: Đại Minh, Đại Thanh. Bia mộ Nhật Bản: Nhật Bản, Chính Hộ, Bình Hộ. Mộ giáo sĩ Bồ Đào Nha: Sa Nha Quốc... Nếu không ghi quốc hiệu, người ta thay bằng quê quán của người quá cố. Cách ghi này có một quy ước khá phổ biến. 

      Cũng có trường hợp ghi nguyên tên quê quán vào bia. Vì thế, tại Hội An có khá nhiều bia mộ ghi địa danh khắp nơi: Hà Đông, Gia Định, Thiên Đô, Quỳnh Châu...

 

Thành phần chủ nhân

Quê quán người quá cố

Chữ ghi ở bia mộ

Việt

Hội An, Cẩm Phô, Thanh Châu,..Hội giang, Cẩm giang, Thanh giang,…

Trung Hoa

Đồng An, Chương Châu, Trường Lạc, Long Khê,..Đồng ấp, Chương ấp, Trường ấp, Long ấp,… 

 

      Trang trí diềm, đế, trán bia thường sử dụng các đề tài:

Diềm 

Hoa cúc dây, hoa sen dây, lá cuộn, rồng mây, hồi văn, chữ triện, mây cuộn... 

Đế 

Hoa sen, hồi văn, hoa dây, dải lụa, cuốn thư... 

Trán 

Mặt trời mây lửa, vòng lưỡng nghi, phượng chầu mặt trăng, lưỡng long tranh châu, chữ triện, hổ phù, rồng ẩn, hạt châu, khánh... 

 

      Ở nhiều bia, các đề tài này thể hiện rất điêu luyện, chứng tỏ tay nghề khá cao của người thợ địa phương, chúng góp phần làm phong phú nghệ thuật trang trí bia mộ không những chỉ ở Hội An mà còn đối với cả nước ta nói chung. 

      Vật liệu xây dựng các thành phần kiến trúc còn lại (nấm, quynh, thành) của các mộ cổ Hội An phổ biến là vôi “bồ ghè”, gạch, đá, đá ong, trong đó vôi bồ ghè (hợp chất gồm vôi giã từ vỏ sò hến, mật mía, nước ngâm từ một số vỏ cây...) là vật liệu chính để tạo nên các nấm mộ cổ. Những nấm mộ này đã tồn tại trên hai, ba trăm năm chứng tỏ được độ bền vững của vật liệu tạo thành. Nấm mộ cổ Hội An có đặc điểm thấp về chiều cao và có nhiều hình dáng: Tròn, tròn xoáy trôn ốc, hột xoài, chữ nhật, mai rùa, yên ngựa, lá sen úp,... Bên dưới nấm là tam tỉnh hình chữ nhật bằng vôi hoặc gạch, đá, trong đựng thi hài và đồ tùy táng. Bên ngoài nấm thường có quynh bao quanh. “Quynh” là bộ phận kiến trúc giống hình tay ngai có hai trụ hình xoáy trôn ốc ngược chiều nhau, phía sau nhô cao, thấp dần về phía trước. Những ngôi mộ lớn bao quanh quynh là thành rộng với các trụ biểu, mảng tường và bình phong trang trí các đề tài hoa lá, tứ nghệ, tứ thời, mai hạc, tùng điểu, câu đối... Đặc biệt có những ngôi mộ xây toàn bằng đá, tọa lạc trên diện tích 150m2 đến 250m2 hoặc những ngôi mộ với nấm bên trong, quynh bên ngoài, nhà bia ở phía trước tạo dáng giống một con vật đang phủ phục rất sinh động và cũng rất tượng trưng. 

      Loại hình mộ cổ ở Hội An không chỉ nhiều về số lượng, đa dạng về kiểu thức mà còn phong phú về chủ nhân. Không kể các di tích mộ chum Sa Huỳnh và những ngôi mộ theo chỉ định của dân gian là mộ Hời, mộ Chàm, tại Hội An đã phát hiện những ngôi mộ thủy tổ tộc phái người Việt, trong đó có mộ thủy tổ tộc Trần ghi niên đại 1498, mộ thủy tổ tộc Lê con cháu Thái tổ Lê Lợi vào năm 1623, mộ các vị Chưởng Cơ, Cai Đội thời các chúa Nguyễn, mộ Thứ Phi và các tướng Tây Sơn, mộ các vị Thượng Thư, Tổng đốc triều Nguyễn... Góp phần minh chứng về thời kỳ phát triển phồn vinh ở thương cảng Hội An là những ngôi mộ thương nhân, giáo sĩ, tăng sĩ nước ngoài hiện tồn tại địa phương. Đó là hàng trăm mộ cổ kiều dân và thương nhân Trung Hoa có niên đại xác định vào thế kỷ 17 - 18. Trong số này có thể kể mộ Cai phủ tàu Văn Huệ Hầu Khổng Thiên Như, Cai phủ tàu Ân Huệ Hầu Chu Kỳ Sơn, những người có công khai sáng Minh Hương xã tại Hội An giữa thế kỷ 17, tháp mộ hòa thượng Minh Hải tổ khai sơn thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh ở Đàng Trong vào thế kỷ 17... Về kiều dân Nhật Bản đã tìm thấy mộ các ông Banjiro, Gusokukun, Tani Yajirobei là những thương nhân Nhật sống ở Hội An vào thế kỷ 17. Ngoài ra còn phải kể đến một số thương nhân, các giáo sĩ nước ngoài khác chôn tại Hội An, những ngôi mộ mang phong cách kiến trúc Pháp thời thuộc địa... Những ngôi mộ này mang dáng vẻ và phong cách riêng, góp phần làm phong phú đặc điểm kiến trúc của loại hình mộ cổ ở Hội An. 

      Cũng cần lưu ý một điều, bên cạnh giá trị về lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc, loại hình mộ cổ ở Hội An còn cung cấp những thông tin cần thiết cho ngành Folklore học nhất là về tập quán tang ma - tống táng của các thành phần cư dân Hội An xưa, về đặc điểm tống táng của giới thương nhân và tầng lớp thị dân ở Hội An nói riêng, xứ Quảng và cả nước nói chung. 

      II. Một số ngôi mộ tiêu biểu 

      Mộ thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn: Khu mộ tọa lạc trên một gò đất rộng, cao tại Rừng Rẫy thuộc xóm Trà Quân, thôn Thanh Đông, xã Cẩm Thanh. Đây là nơi án táng thứ phi vua Quang Trung - bà Trần Thị Quỵ và các tướng triều Tây Sơn. Các ngôi mộ được xây dựng bằng hợp chất. Trong đó tiêu biểu là mộ bà Trần Thị Quỵ và mộ vợ chồng ông Trần Công Thức. Mộ thứ phi Trần Thị Quỵ có quy mô nhỏ nhưng kiểu dáng hạt xoài khá ấn tượng. Bia mộ đề Hán tự với nội dung: Đông Châu tiền triều Hoàng hậu Thứ phi tự Quỵ Trần Tổ cô mộ. Lạc khoản ghi Hán tự: Mậu Tuất hạ nguyệt nhật Trần Công tộc nội tôn bái lập. Bên cạnh mộ Thứ phi là song mộ vợ chồng ông Trần Công Thức, ông bà nội của bà Thứ phi. Ông Trần Công Thức là vị tướng của triều Tây Sơn, tước Quốc đại Đô đốc quận công đại tướng quân. Song mộ có thành rộng, phía sau và trước có bình phong và trụ biểu cao, mấm hình hạt xoài, bia mộ khá lớn bằng cẩm thạch.

Mộ thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn - Ảnh: Hồng Việt

 

      Đây là khu mộ có quy mô lớn, kết cấu tiêu biểu, ngoài việc góp phần làm phong phú đặc điểm của loại hình mộ cổ Hội An, di tích còn là bằng chứng về vai trò khá đặc biệt của làng Thanh Châu nói chung, tộc Trần nói riêng đối với nhà Tây Sơn - vua Quang Trung trong lịch sử. Ngôi mộ được cấp bằng xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991.

      Mộ tổ tộc Lê: Ngôi mộ tọa lạc tại khu vực Đồng Giá thuộc thôn Thanh Đông, xã Cẩm Thanh. Đây là nơi yên nghỉ của vị Thủy tổ tộc Lê thuộc đời thứ 5 triều Hậu Lê đã đến khai cơ lập nghiệp tại Thanh Châu vào đầu thế kỷ 17. Theo văn bia và các nguồn tư liệu của tộc họ, ông Lê Duy Trì là con trưởng của Thế Tông hoàng đế Lê Duy Đàm và là anh hoàng đế Lê Kính Tông, do bị Trịnh Tùng bức hại nên ông đã tỵ nạn vào Nam, định cư quy dân lập ấp ở Thanh Châu. Sau khi qua đời ông được an táng tại làng Thanh Châu cho đến ngày nay. Tương truyền trước đây ngôi mộ được xây dựng với quy mô rộng lớn, nhưng trải qua chiến tranh nên đã hư hại nặng. Đến năm 1930, con cháu trong tộc đã tu bổ lại ngôi mộ với kiểu thức như hiện nay. Ngôi mộ là di tích có giá trị cao về mặt lịch sử và văn hóa, là cơ sở để tìm hiểu về vấn đề di dân lập làng của cư dân Đại Việt trên đất Hội An. Ngôi mộ được cấp bằng xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991. 

      Mộ ông Banjiro: Tọa lạc tại khối Trường Lệ, phường Cẩm Châu. Ông Banjiro là một thương gia Nhật Bản mất và được an táng tại Hội An. Ngôi mộ còn giữ được những dấu vết nguyên thủy xây dựng từ thế kỷ 17. Bia mộ có niên đại 1665. Phía sau mộ có một tấm bia khắc nội dung tu bổ ngôi mộ vào năm 1928 được dịch như sau: “Năm Chiêu Hoà thứ 3 (1928) theo đề xuất của giáo sư văn học Kuroita Katsumi, tập thể người Nhật cư trú tại Đông Dương (nay là Việt Nam, Campuchia, Lào) đề nghị ông Nakayama phụ trách giám sát việc tu sửa ngôi mộ này”. Gần đây thành phố Hội An tiếp tục tu bổ giữ gìn chu đáo ngôi mộ này. Ngôi mộ được cấp bằng xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991.

 Mộ ông Banjiro - Ảnh: Hồng Việt

 

      Mộ ông Tani Yajirobe: Tọa lạc tại khối Trường Lệ, phường Cẩm Châu. Ông Tani Yajirobei là một thương gia quê ở Hirado - gần Nagasaki, mất và an táng tại Hội An. Bia mộ khắc rõ hai chữ Nhật Bản và có niên đại 1647. Cũng như các ngôi mộ cổ khác ở Hội An, nấm của mộ cùng các hạng mục khác được làm bằng hợp chất vôi ghè. Phía sau mộ có một tấm bia khắc nội dung tu bổ ngôi mộ vào năm 1928. Ngôi mộ tiếp tục được tu bổ lớn vào năm 1997 và làm thêm đường bằng đá dẫn vào ngôi mộ. Ngôi mộ được cấp bằng xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991. 

Mộ ông Tani Yajirobe - Ảnh: Hồng Việt

 

      Mộ tổ tộc Trần: Tọa lạc tại thôn Võng Nhi, xã Cẩm Thanh. Ngôi mộ là nơi yên nghỉ của vị thủy tổ tộc Trần Văn, một trong những tộc họ lớn của làng Thanh Châu xưa. Bia mộ cho biết vị thủy tổ tộc Trần Văn gốc ở Hải Dương vào khai hoang lập làng Võng Nhi vào cuối thế kỷ XV.

      Ngôi mộ xoay hướng Đông Bắc, khuôn viên có diện tích 4,5x6m. Chính giữa nhà bia dựng tấm bia cẩm thạch, sát phía sau là nấm mộ hình tròn.

      Ngoài việc góp phần làm phong phú loại hình mộ cổ ở Hội An, một tổ tộc Trần Văn là minh chứng sinh động về quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân Việt ở Hội An nói riêng, xứ Quảng nói chung vào thế kỷ 15-16. Ngôi mộ được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2008.