Tổng quan về văn bia Hán Nôm ở Hội An

Văn bia Hán Nôm là những lời văn Hán Nôm được khắc trên bia đá hoặc trên một diện tích bằng đá. Trong ngôn ngữ Hán Việt loại văn bản này được gọi là bi văn hoặc bi ký được dịch sang tiếng Việt là văn bia.

Đây là bộ phận quan trọng tạo nên di sản văn khắc Hán Nôm đồ sộ của các địa phương và cả nước. Do được hiểu là những văn bản được khắc trên đá nên văn bia không bao gồm trong nó những bia mộ đơn thuần hoặc những bia chỉ đường, bia đánh dấu địa điểm. Chỉ khi nào các bia này có khắc kèm theo những văn bản mang nội dung nào đó thì mới được xem là văn bia. 

Bản rập Văn bia chùa Quảng An - Ảnh: Hồng Việt

 

      Văn bia Hán Nôm ở Hội An hiện tồn với số lượng khá lớn, nằm rải rác ở nhiều địa phương, nhiều di tích. Trong đó địa phương có số lượng văn bia hiện tồn nhiều nhất là phường Minh An, phường trung tâm của Khu phố cổ Hội An, nơi có nhiều di tích lịch sử - văn hóa. Về số lượng, tuy chưa có con số thống kê đầy đủ, chính xác nhưng qua khảo sát thực địa, đối chiếu với các nguồn tư liệu liên quan như Tổng tập Văn bia Việt Nam, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Tổng tập thác bản văn bia Hán Nôm Việt Nam,… có thể xác định có khoảng trên 100 văn bia ở Hội An, trong đó đa số đang hiện tồn tại các địa phương, di tích và một số đã mất chỉ còn lại thác bản. 

      Về nội dung, các văn bia này chứa đựng nhiều thông tin liên quan đến lịch sử - văn hóa Hội An, đến quá trình hình thành các làng xã, tộc họ, đến các nhân vật, sự kiện gắn với địa phương, đến quá trình tạo dựng, tu bổ các di tích,… Cũng giống như các địa phương khác, các văn bia Hán Nôm ở Hội An mang nhiều nội dung phong phú và đa dạng liên quan đến các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội trong lịch sử. Dựa vào nội dung chính của các văn bia có thể phân thành các loại như sau: 

      - Văn bia về việc xây dựng, tu bổ các di tích. Loại này chiếm số lượng nhiều nhất như văn bia trùng tu Lai Viễn Kiều ký (ghi chép về việc trùng tu Chùa Cầu); các văn bia trùng tu Quan Công miếu, văn bia Phước Duyên Thiện Khánh ghi chép việc trùng tu hội quán Triều Châu; văn bia trùng kiến hội quán Phúc Kiến; văn bia trùng kiến chùa Viên Giác… Ở loại văn bia này thường kèm theo danh sách họ tên, quê quán, chức tước những người được cúng tiền. 

      - Văn bia về các nhân vật gắn với lịch sử - văn hóa địa phương như văn bia mộ thượng thư Nguyễn Văn Điển; văn bia Khai sơn hòa thượng hạnh thuật ghi chép về hạnh trạng của hòa thượng khai sơn chùa Phước Lâm, bia tiểu sử thiền sư Minh Giác,…

      - Văn bia về thủy tổ các tộc họ như văn bia mộ tổ tộc Lê ở Thanh Châu, văn bia mộ tổ tộc Lê ở Cẩm Phô, tộc Trần ở Võng Nhi, tộc Nguyễn Viết ở Để Võng…

     - Văn bia về các quy định, điều lệ liên quan đến giao thương, buôn bán như văn bia Dương Thương hội quán công nghị điều lệ ghi các điều lệ đã được công nghị của thuyền trưởng các tàu buôn vùng Nam Trung Hoa khi đến Hội An. 

      - Văn bia về một số sự kiện đáng nhớ của địa phương như văn bia ghi lại việc đắp đường quan lộ từ Điện Bàn đến Hội An, việc lập Nghĩa Thương ở Cẩm Phô; việc những người Nhật Bản ở Đông Dương tu bổ các ngôi mộ Nhật ở Hội An…

      Về niên đại, văn bia ghi niên đại sớm nhất là văn bia mộ tổ tộc Trần Văn ở thôn Võng Nhi xã Cẩm Thanh kể về việc ông thủy tổ Trần Văn Lý theo đoàn quân bình Chiêm và ở lại địa phương lập nên làng Võng Nhi. Niên đại ghi ở bia là Cảnh Thống Mậu ngọ (1498). Tuy nhiên đây là bia mới khắc sau này. Nội dung văn bia được lấy từ những ghi chép trong gia phả của tộc do con cháu lập về sau. Vì vậy năm 1498 không được xem là năm khắc tấm bia này. Niên đại phổ biến của các văn bia Hán Nôm ở Hội An là thế kỷ XVIII - XIX. Văn bia niên đại thế kỷ XVII rất hiếm. Tại Hội An chỉ mới tìm thấy văn bia Thanh Long Bửu Khánh có niên đại năm 1696 và liên quan đến Hội An có văn bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật ở động Hoa Nghiêm, Non Nước có niên đại năm 1640. 

      Về chất liệu, đa số các văn bia được chạm khắc trên sa thạch hoặc cẩm thạch. Những văn bia có niên đại sớm, thế kỷ XVII - XVIII được khắc trên sa thạch. Những văn bia có niên đại muộn, thế kỷ XIX - XX được khắc trên cẩm thạch. Một số ít văn bia sớm được khắc trên loại đá phiến (phiến thạch). Những bia này bề mặt thường bị bong tróc nhiều do bị ẩm. Một số khác được khắc trên bia bằng xi măng, và tất nhiên đây là những văn bia có niên đại muộn hơn cả. 

      Về trang trí, phần lớn văn bia Hán Nôm ở Hội An được chú ý trang trí ở phần trán và diềm xung quanh. Đề tài trang trí khá phong phú. Phần trán thường trang trí đề tài lưỡng long triều nguyệt, mặt trời mây lửa, chim phượng; phần diềm trang trí hoa cúc dây, cánh sen, mây cuộn, hồi văn… Một số bia có đế trang trí hình cánh sen. 

      Về tác giả, hầu hết các văn bia đều ghi tên người lập bia. Đó là những người có học hàm đỗ đạt hoặc là những chức sắc của làng xã. Một số văn bia do những người có danh vọng chấp bút như văn bia Văn chỉ làng Minh Hương do giải nguyên Đặng Huy Trứ soạn, văn bia trùng tu Quan Công miếu do huấn đạo, cử nhân Trương Đồng Hiệp soạn, văn bia mộ Nguyễn Điển do Hàn Lâm viện thị độc, tiến sĩ Phạm Văn Nghị soạn, bia trùng kiến chùa Viên Giác do Hàn Lâm viện thị giảng, phó bảng Nguyễn Tường Vĩnh soạn…

      Về thư pháp, hầu hết các văn bia đều dùng chữ Hán, khắc lối chân phương. Chỉ có một vài bia, phần tên bia dùng lối chữ triện như bia Dương Thương hội quán công nghị điều lệ, bia Phổ Đà sơn linh trung Phật… Chữ Nôm được dùng rất ít và không phổ biến, một số bia chỉ có một số chữ Nôm, thường là để ghi tên người, tên địa phương. Ở bia tu bổ mộ thương nhân Nhật Bản có kèm theo một số chữ Nhật bên cạnh chữ Hán. 

      Tương tự văn bia Hán Nôm trên phạm vi cả nước, văn bia Hán Nôm ở Hội An chứa đựng giá trị về nhiều mặt. Có thể xem xét các giá trị này ở những khía cạnh sau:

      - Giá trị về mặt tư liệu lịch sử: Trong điều kiện các nguồn tư liệu thư tịch, biên niên lịch sử chính trị chính thống về địa phương hiếm hoi và hạn chế - một thực tế tất yếu vì chính sử chỉ có thể tập trung cho những sự kiện, nhân vật quan trọng có tầm cỡ quốc gia thì các văn bia chính là sự bổ khuyết cho khoảng trống này của chính sử. Văn bia Hán Nôm ở Hội An cũng vậy, chúng chính là nguồn sử liệu quan trọng của địa phương mà qua đó chúng ta có thể xác định được những bước đi lịch sử của từng làng xã, từng di tích, diện mạo của một số nhân vật địa phương, sinh hoạt văn hóa - tôn giáo tín ngưỡng của cộng đồng vào những thời điểm nhất định. Qua văn bia tại địa phương chúng ta có thể nắm bắt những sự kiện lịch sử chính xác mà không một pho chính sử nào có thể cung cấp được. Chính qua bia Phổ Đà sơn linh trung Phật ta có thể biết được tính xác thực của việc hình thành phố người Nhật và phố người Hoa ở Hội An, biết được cho đến năm 1640, danh xưng xã Hội An đã xuất hiện. Cũng vậy, qua một số văn bia ta có thể xác định tương đối chính xác thời gian hình thành của các làng Võng Nhi, Để Võng, Cẩm Phô, Minh Hương, v.v… Qua các bia trùng tu Quan Công miếu ta có thể hình dung được một số diễn biến lịch sử của cuộc tranh chấp Nguyễn, Trịnh, Tây Sơn đã tác động đến phố Hội An như thế nào, cuộc tuần du đến Hội An của vua Minh Mạng vào năm 1825… Rất nhiều sự kiện liên quan đến địa phương mà không một bộ chính sử nào ghi lại đã được tạc vào các văn bia một cách sinh động và cụ thể. 

      Văn bia cũng đã cung cấp tư liệu làm rõ hành trạng của một số nhân vật lịch sử địa phương mà các nguồn tư liệu thư tịch không đề cập đến được. Đáng nói hơn nữa, các văn bia đó còn cho biết thái độ đánh giá, sự ghi nhận của cộng đồng dân cư đối với người mà văn bia ghi lại. Bia tiểu sử thiền sư Minh Giác cho ta thấy rõ quá trình tu tập cũng như công đức “Bình Man, tảo thị lưỡng độ gian lao, xuất gia kỳ, phát nguyên vưu kỳ bát vật sanh thiên thành chánh quả; Tạo tự, trù chung nhị thung công đức cách cựu hảo, đảnh tân cố hảo thiên thu giác thế vĩnh truyền đăng” (Dẹp giặc, quét chợ đôi lượt gian lao, xuất gia khác thường phát nguyện cũng khác thường, tám mươi tuổi đường tu thành chánh quả; Dựng chùa, đúc chuông hai điều công đức thay cũ đã tốt, lập mới càng tốt hơn ngàn năm truyền mãi ánh đạo nhiệm màu). Bia mộ Nguyễn Văn Điển cho ta biết lai lịch gia đình, cuộc đời học hành, làm quan của một vị thượng thư triều Nguyễn. Đặc biệt qua văn bia đã hé mở những thông tin về một vị quan liêm chính, thân dân thuộc phái chủ chiến và cái chết nhiều ẩn khúc (không đau ốm gì mà mất) của ông. Ngoài ra, qua một số văn bia khác cũng cung cấp cho ta những thông tin ít ỏi nhưng rất quan trọng về các nhân vật liên quan đến lịch sử phát triển của các làng xã ở Hội An như Thập Lão, Lục Tánh, Tam Gia của xã Minh Hương; ông Lê Duy Trì của tộc Lê ở Thanh Châu, các vị tiền hiền từng giữ các chức vụ quan trọng vào thời các chúa Nguyễn, triều Nguyễn của các tộc Trần Trung, Lê Công,… Qua các văn bia này chúng ta có thể xác định được các mốc thời gian liên quan đến quá trình định cư lập nghiệp, khai khẩn, khai cơ của các tộc họ ở Hội An vào thời vua Lê Thánh Tông (thế kỷ XV), thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng (thế kỷ XVI - XVII) và các giai đoạn về sau: 

      Một số vấn đề liên quan đến quá trình giao thương buôn bán ở thương cảng Hội An trong quá khứ cũng đã được đề cập đến trong một số văn bia, qua đó giúp người đời sau có thể hình dung, xác định tình hình thương mãi - ngoại thương lúc bấy giờ ở địa phương. Cùng với các nguồn tư liệu thư tịch, các ghi chép của các giáo sĩ, tăng sĩ thương nhân khi đến Hội An, văn bia là một số nguồn tư liệu thực địa phản ảnh sinh động sự phát triển thịnh đạt một thời ở phố Hội. Bia trùng tu Lai Viễn Kiều năm 1817 cho biết cây cầu này nguyên trước đó do người Nhật Bản xây dựng nên và quang cảnh buôn bán nhộn nhịp của thương cảng Hội An lúc bấy giờ: “Phố Hội An là cảnh trí đẹp của xứ Quảng Nam. Sông giáp 3 mặt, ghe thuyền buôn bán tấp nập, sản vật núi biển dồn về…”. Bia Phổ Đà sơn linh trung Phật cho biết có hơn 10 gia đình thương nhân Nhật Bản đã lập dinh thự, nhà cửa ở Hội An để buôn bán, sinh sống, trong đó có nhiều người lấy vợ Việt. Văn bia ở hội quán Hải Nam cho biết việc quyên góp của các thương khách các vùng thuộc Hải Nam để xây dựng hội quán tại Hội An, qua đó cho thấy quy mô giao thương, buôn bán của các thương nhân Hải Nam thời bấy giờ. Văn bia Dương Thương hội quán công nghị điều lệ lập năm 1741 khắc 10 điều lệ liên quan đến việc đi lại, định cư buôn bán tại Hội An của các chủ thuyền buôn các vùng Nam Trung Hoa gồm Phúc Kiến, Triều Châu, Gia Ứng, Quảng Đông… Đây là tư liệu quý liên quan đến hoạt động ngoại thương trên biển tại Hội An của thương nhân Trung Hoa trong các thế hệ trước, qua đó góp phần làm sáng tỏ quá trình buôn bán trên biển của thương nhân Trung Hoa và mạng lưới mậu dịch ven biển Đông vào các thế kỷ trước đây, trong đó Hội An là một tụ điểm quan trọng.