Tổng quan về Sắc phong ở Hội An

Sắc phong (勅 封) là loại hình văn bản hành chính trung ương cấp cao do Hoàng đế các triều đại quân chủ Việt Nam ban hành để ban thưởng phong tặng, ban cấp chức tước, phẩm hàm, thần hiệu, vật hạng,... cho thần dân và thần kỳ. Sắc phong do vậy bao gồm sắc phong nhân vật và sắc phong thần kỳ (nhân thần, nhiên thần, thiên thần). Nếu sắc phong thần kỳ cơ bản có sự thống nhất chung thì sắc phong nhân vật có nhiều thay đổi về tên gọi, thể thức qua các triều đại.

Và các triều đại quân chủ Việt Nam cũng đã từng bước điển chế hóa việc ban hành sắc phong ở các bộ sách Hoàng triều đại điển thời Trần, Quốc triều chính biên điển lệ thời Mạc, Lê triều hội điển thời Lê... Đến triều Nguyễn việc ban cấp sắc bằng của triều đình đã được quy chuẩn trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, (Hội điển) do Nội các biên soạn tại các quyển 18, 19, 20 về Sắc bằng, quyển 27, 28, 29, 30 về phong tặng[1]. Theo đó, Hội điển gọi chung các loại văn bản phong tặng, ban thưởng là cáo sắc, trong đó: “Vâng xét điển lệ các đời về Bắc triều, phàm cắt bổ các quan văn võ: Từ chánh nhất phẩm đến tòng ngũ phẩm đều gọi là cáo thụ; từ chánh lục phẩm đến tòng cửu phẩm đều gọi là sắc thụ; còn thể đầu văn cáo sắc, “nhất phẩm”[2] đoạn khởi đầu 6 câu đoạn giữa 14 câu đoạn kết 6 câu, nhị phẩm, đoạn khởi đầu 6 câu đoạn giữa 12 câu đoạn kết 6 câu; tam phẩm đoạn khởi đầu 6 câu đoạn giữa 10 câu đoạn kết 6 câu; tứ ngũ phẩm đoạn khởi đầu 4 câu, đoạn giữa 8 câu đoạn kết 4 câu; lục thất phẩm đoạn khởi đầu 4 câu, đoạn giữa 6 câu đoạn kết 4 câu; bát cửu phẩm đoạn khởi đầu 2 câu, đoạn giữa 4 câu, đoạn kết 2 câu, nay đã sức cho Viện Hàn lâm soạn nghĩ ra, cộng được 12 thể, nhưng phải hết lòng, nhuận sắc kỹ thêm, làm tập tấu tiến trình, đợi thánh chỉ tài định”[3]. Hội điển cũng cho biết, từ năm Minh Mạng thứ 7 (1826) đã đưa ra 12 bản mẫu thể văn cáo sắc của 2 ban văn võ từ nhất phẩm cho đến tòng cửu phẩm[4] trong đó thể văn cáo thụ (từ chánh nhất phẩm đến tòng ngũ phẩm) bắt đầu bằng cụm từ: “Thừa thiên hưng vận hoàng đế chế viết: …”, nội dung có cụm từ “Tích chi cáo mệnh”, và thể văn sắc thụ (từ chánh lục phẩm đến tòng cửu phẩm) bắt đầu bằng từ “Sắc” hoặc “Sắc viết”. Từ đó, các cáo thụ còn được gọi là chế phong (制 封), cáo mệnh (誥 命), các sắc thụ còn được gọi là sắc phong (勅 封). 

Sắc phong thần Huyền Thiên Đại đế Quan Thánh Đế quân xã Minh Hương phụng thờ năm Đồng Khánh thứ 2  - Ảnh: Tư liệu trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An

 

Cùng với chế phong và sắc phong, triều Nguyễn còn có một số thể thức phong thưởng khác như tích phong (錫 封) dùng để ban thưởng các tước công, hầu, bá, tử, nam; phong tặng (封 贈) dùng để truy tặng chức, tước, phẩm hàm cho các quan lại, binh lính tử trận, cho cha mẹ, ông bà của các công thần. Riêng Hoàng thái tử, Hoàng tử, Thân vương, Vương hậu, Công chúa thì dùng hình thức sách phong (册 封), trong đó, sách bằng vàng đối với Hoàng thái tử, bạc mạ vàng đối với Thân công, Hoàng tử công (Hoàng thân, Hoàng tử được ban tước công); bằng bạc đối với Hoàng thân được ban tước hầu[5]… Ngoài ra những vị vua đầu triều Nguyễn còn có các chiếu phong để phong chức tước, giao nhiệm vụ cho các thần hạ. Loại chiếu phong (詔 封) này được tìm thấy khá nhiều tại các địa phương. Đến năm Minh Mạng thứ 19 (1838) thì cho đổi chữ “chiếu” thành chữ “sắc”, tương tự thể văn sắc thụ[6]. Tất cả các thể loại, thể văn này được chúng tôi gọi chung là sắc phong để giới thiệu trong cuốn sách này. Các sắc phong chủ yếu được viết trên giấy, một số ít được viết trên vải, nên rất dễ bị hư hỏng, mục nát bởi các yếu tố khí hậu, thời tiết mưa gió, bão lụt, mối mọt, hỏa hoạn. Thêm vào đó, một số tác động của con người cũng góp phần làm các sắc phong dần mất đi qua việc thu đổi, thiêu hủy bởi các triều đại quân chủ sau đối với triều đại trước, nhất là đối với những thế lực quân chủ đối địch như nhà Nguyễn với nhà Tây Sơn, hoặc do cách bảo quản không đúng phương pháp của các thế hệ chủ nhân sắc phong. Trong tình hình như vậy, số sắc phong còn lại không nhiều, và số này có niên đại phổ biến từ thời Lê Trung Hưng (1533-1789) trở về sau. Đối với khu vực từ miền Trung trở vào Nam thì các sắc phong thời Lê lại càng hiếm. Ở Hội An, chúng tôi không tìm thấy sắc phong thời Lê. Thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn cũng vậy, cho dù ở Hội An từng có nhiều nhân vật tham gia chính quyền chúa Nguyễn và Tây Sơn, hiện vẫn còn gia phả, bia mộ. Liên quan đến thời các chúa Nguyễn tại Hội An hiện còn một văn bia khắc chiếu văn phong tước và cấp đất đai, tiêu biểu là nhân vật Cai phủ tàu Văn Huệ hầu Khổng Thiên Như. Căn cứ vào lạc khoản và người đứng lập, niên đại tấm bia được xác định là năm 1695 và chiếu văn được cho là của Minh Vương Nguyễn Phúc Chu[7]. Chiếu phong mở đầu bằng từ Chiếu chỉ, phần vinh phong có từ “chiếu viết”. Xét thể thức thì văn bản này khác với các tờ Thị của các chúa Nguyễn thường dùng để phong chức tước, ban cấp ngụ lộc cho các quan lại dưới quyền đã được tìm thấy ở nhà thờ tộc Đoàn (Duy Xuyên)[8], tộc Trần (Quảng Ngãi)[9].

Tất cả các sắc phong của Hội An tìm thấy tại thực địa hoặc trong tài liệu cho đến nay (2021) đều thuộc thời Nguyễn, triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam. Dựa vào các sắc phong khảo sát được tại các đình làng ở Hội An hiện nay, cũng như dựa vào bản khai Phôn-clo (Folklore) của các làng xã tại Hội An và tài liệu Quảng Nam tỉnh tạp biên do Viện Viễn Đông bác cổ thực hiện những năm 1942 - 1943, đã thống kê được 321 đạo sắc trên 11 xã. Trong tổng số 321 đạo sắc này có 121 bản sắc gốc, và 200 bản sao lại trong các tài liệu đã nêu. Những sắc nào là sắc phong gốc thì không tính bản sao. Như vậy có nghĩa là 200 bản sao này hiện không còn nữa. Như vậy số sắc bị thất lạc, mất mát tính từ năm 1943 kê khai đến nay chiếm đến 63%. Những làng xã hiện nay không còn sắc phong nào như Tân Hiệp, Thanh Đông, Thanh Nam. 

Về đối tượng được phong tặng, trong số 321 sắc này có 252 sắc phong thần kỳ và 69 sắc phong nhân vật. Đối với thần kỳ có 29 vị, trong đó thiên thần 5 vị, nhiên thần 14 vị, nhân thần 10 vị.

 

Stt

Đối tượng

Danh hiệu

Số lượng

1

Thiên thần

Cửu Thiên Huyền nữ, Huyền Thiên Đại đế, Sanh Thai tam vị thánh nương, Thành Hoàng, Thiên Y A Na

5

 

2

2

Nhiên thần

Tứ Dương tôn thần, Thủy Long thần nữ, Thái giám Mộc Thọ, Đông Nam Sát Hải nhị đại tướng quân, Nam Hải Cự tộc Ngọc Lân, Đông Hải Cự tộc Ngọc Lân, Ngọc Nữ linh cô, Ngũ Hành Sơn Tinh Chúa Ngọc, Ngũ Hành tiên nương, Bạch Mã Thái giám, Bạch Thố Kim Tinh, Bích Sơn thạch tượng, Dương Phi phu nhân, Thiên Tiên thần nữ

14

3

Nhân thần

Bảo Sanh Đại đế, Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương, Quan Thánh Đế quân, Phi Vận tướng quân, Thiên Hậu thánh mẫu, Phiếm Ái phu nhân, Bộ hạ thị nữ nhất Đàn nương, Bộ hạ tam thập lục tướng, Lý Đại Thành Linh phù, Thái Văn Chuyên Linh phù [10]

10

Tổng cộng

29

Những vị thần có sắc thờ ở nhiều làng xã nhất là bà Đại Càn 10/11 làng xã, Thành Hoàng 10/11 làng xã (làng Minh Hương không có sắc 2 vị thần này). Có vị thần chỉ được thờ tự duy nhất ở một làng xã như Thiên Hậu thánh mẫu, Bảo Sanh Đại đế, Bộ hạ tam thập lục tướng, Huyền Thiên Đại đế, Sanh Thai tam vị thánh nương ở làng Minh Hương; Bích Sơn thạch tượng, Thái giám Mộc Thọ ở làng Để Võng, bà Phường Chào ở làng Hội An, Phi Vận tướng quân ở làng Sơn Phong, Ngọc Nữ linh cô ở ấp Trường Lệ[11] làng Cẩm Phô, riêng Quan Thánh Đế quân có sắc thờ tự ở 4 làng xã là xã Minh Hương (8 sắc); Thanh Đông (2 sắc); Thanh Nam (2 sắc); Thanh Hà (2 sắc). Riêng nhân thần người địa phương, xã Minh Hương có 2 nhân vật được phong Linh phù chi thần là Lý Đại Thành, Thái Văn Chuyên.

Về số lần sắc phong thần kỳ, chúng tôi tổng cộng được 374 lần trên 11 làng xã. Làng có số lần sắc phong nhiều nhất là Minh Hương: 51 lần, tiếp đến là Cẩm Phô: 48 lần; Thanh Hà: 47 lần. Những vị thần có nhiều lần sắc phong là Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương: 61 lần ở 10 làng xã; Thành Hoàng: 60 lần ở 10 làng xã, Thái giám Bạch Mã: 50 lần ở 8 làng xã; Thiên Y Chúa Ngọc: 42 lần ở 7 làng xã. Có những vị thần chỉ có 1 hoặc 2 lần sắc phong như Thái giám Mộc Thọ, Bích Sơn tôn thần ở làng Để Võng; Bộ hạ tam thập lục tướng ở làng Minh Hương; Ngọc Nữ linh cô ở ấp Trường Lệ, làng Cẩm Phô… Đây là những vị thần được sắc phong muộn vào đời vua Khải Định (1916 - 1925) trở về sau.

Về niên đại, sắc phong thần kỳ ở Hội An có niên đại sớm nhất là Minh Mạng thứ 5 (1824) và muộn nhất là Bảo Đại thứ 18 (1943). Ngày tháng, niên hiệu từ sớm đến muộn của các sắc phong này tập hợp như sau:

Stt

Ngày tháng năm ban phong (âm lịch)

Làng xã có sắc phong

Ghi chú

1

Ngày 11 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 5 (1824)

Minh Hương

Sắc phong Huyền Thiên Đại đế, Quan Thánh Đế quân

2

Ngày 17 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 7 (1826)

Hội An, Minh Hương, Cẩm Phô, Sơn Phong, Tân Hiệp, Để Võng, Sơn Phô, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Đông, Thanh Hà

Sắc phong nhiều vị thần

3

Ngày 12 tháng 5 năm Minh Mạng thứ 12 (1831)

Minh Hương

Sắc phong Thiên Hậu

4

Ngày 12 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843)

Hội An, Minh Hương, Sơn Phong, Cẩm Phô, Để Võng, Sơn Phô, Tân Hiệp, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Đông, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

5

Ngày 14 tháng 5 năm  Thiệu Trị thứ 3 (1843)

Hội An, Minh Hương, Sơn Phong, Cẩm Phô, Để Võng, Sơn Phô, Tân Hiệp, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Đông, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

6

Ngày 25 tháng 9 năm Tự Đức thứ 3 (1850)

Hội An, Minh Hương, Sơn Phong, Cẩm Phô, Để Võng, Sơn Phô, Tân Hiệp, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Đông, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

7

Ngày 02 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 (1852)

Hội An, Minh Hương, Sơn Phong, Cẩm Phô, Sơn Phô, Tân Hiệp, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Đông, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

8

Ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880)

Hội An, Minh Hương, Sơn Phong, Cẩm Phô, Để Võng, Sơn Phô, Tân Hiệp, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Đông, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

9

Ngày 01 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887)

Hội An, Minh Hương, Sơn Phong, Cẩm Phô, Để Võng, Sơn Phô, Tân Hiệp, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Đông, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

10

Ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909)

Hội An, Minh Hương, Sơn Phong, Cẩm Phô, Để Võng, Sơn Phô, Tân Hiệp, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Đông, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

11

Ngày 08 tháng 6 năm Duy Tân thứ 5 (1911)

Minh Hương, Cẩm Phô, Để Võng, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

12

Ngày 08 tháng 10 năm Duy Tân thứ 7 (1913)

Cẩm Phô

Sắc phong Ngũ Hành Sơn Tinh Chúa Ngọc

13

Ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 2 (1917)

Minh Hương, Cẩm Phô, Để Võng, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

14

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)

Hội An, Minh Hương, Sơn Phong, Cẩm Phô, Để Võng, Sơn Phô, Tân Hiệp, An Mỹ, Thanh Nam, Thanh Đông, Thanh Hà 

Sắc phong nhiều vị thần

15

Ngày 06 tháng 3 năm Bảo Đại thứ 11 (1936)

ấp Trường Lệ xã Cẩm Phô

Sắc phong Ngọc Nữ linh cô

Trong số các sắc phong của làng Hội An, có một bản sao sắc phong năm Thành Thái thứ 8 (1896) phong cho bà Nguyễn thị (bà Phường Chào) ở châu Phiếm Ái, mỹ tự là Trai thục Dực bảo trung hưng trật trung đẳng thần. Bà Phường Chào và bà Bô Bô, những vị nữ thần gốc ở miền núi và Trung du xứ Quảng cũng có bài vị được thờ ở đình làng Hội An, trong đó bà Phường Chào có bản sao sắc phong. Do là bản sao từ làng Phiếm Ái nên chúng tôi không đưa vào tổng hợp.

Dựa vào bản tổng hợp, đối chiếu với một số sắc phong khác ngoài Hội An, chúng tôi thấy rằng ngoài những lần đột xuất như năm Minh Mạng thứ 12 (1831) phong cho Thiên Hậu của làng Minh Hương; Duy Tân thứ 7 (1913) phong cho Ngũ Hành Sơn Tinh Chúa Ngọc của làng Cẩm Phô; Bảo Đại thứ 11 (1936) phong cho Ngọc Nữ linh cô của ấp Trường Lệ làng Cẩm Phô, còn lại các lần khác được triều đình nhà Nguyễn sắc phong cho nhiều vị thần ở nhiều làng khác nhau, chứng tỏ việc sắc phong thần kỳ được tiến hành theo từng đợt cho nhiều địa phương. Vì vậy, thời điểm gia phong, sắc phong có sự giống nhau giữa các địa phương. Dựa vào nội dung sắc phong, ta có thể biết được các đợt này tiến hành vào các dịp lễ lớn của triều đình như tứ tuần, ngũ tuần khánh đản của vị vua đương triều, hoặc của tiên đế triều trước, ngày làm lễ đăng quang tức vị (lên ngôi vua) của vị vua mới,…

Các sắc phong này cơ bản có sự thống nhất về hình thức, nội dung, thể thức qua các đời vua triều Nguyễn. Chúng đều được viết trên giấy long đằng màu vàng, kích thước bình quân dài 130cm, rộng 50cm, bên ngoài có viền hồi văn chữ vạn hoặc hoa thị, rộng 3-3,5 cm, lòng giấy mặt chính vẽ long vân (rồng mây) chữ thọ, phượng hàm thọ (chim phượng ngậm chữ thọ), mặt sau vẽ tứ linh, chữ thọ, quạt lá và hòm sách. Giấy thời Minh Mạng, Tự Đức có nét vẽ sắc sảo, nhụ vàng hoặc bạc, chất lượng giấy mềm, mỏng, dẻo dai. Càng về sau, chất lượng giấy và nét vẽ giảm dần.

Về nội dung, các sắc phong cơ bản có 3 phần. Phần mở đầu là chữ “Sắc” hoặc “Sắc chỉ”, tiếp đó là tên của vị thần hoặc tên của địa phương và tên của vị thần. Phần giữa là lý do, mỹ tự, phẩm trật ban phong. Phần cuối là chuẩn cho địa phương y cựu phụng sự (theo lệ cũ mà thờ tự) để dụng đáp thần hưu (đền đáp ơn thần) hoặc “dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển” (ghi lại ngày vui của đất nước để làm rõ điển lệ), hoặc “thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân” (thần hãy ra sức bảo vệ dân ta), và kết thúc bằng hai chữ “Khâm tai”. Như vậy là đến năm Minh Mạng thứ 5 (1824) thì các sắc phong thần kỳ đã thay 2 từ “Cố sắc” thành “Khâm tai[12].

Về phẩm trật được chia làm 3 hạng: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần, Hạ đẳng thần (thường được ghi là tôn thần, chi thần). Có vị thần ngay từ những năm đầu đời vua Minh Mạng đã được phong là thượng đẳng thần, như: Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương; Thiên Y A Na Chúa Ngọc; có những vị thần ban đầu chỉ được phong là tôn thần, chi thần như Nam Hải Cự tộc Ngọc Lân, Thành Hoàng, Đông Nam Sát Hải nhị đại tướng quân, Bạch Mã Thái giám… Dần dần trải qua các đợt gia phong, phẩm trật của vị thần được nâng dần lên và mỹ tự cũng nhiều dần. Do tình trạng có quá nhiều mỹ tự nên năm Tự Đức thứ 3 (1850) nhà vua đã chuẩn theo quy định: “… mỗi thần hiệu gia tặng 2 chữ, các thần hiệu dự ở phong tặng đều xét từng hạng viết điền vào nhưng trong khi viết sắc, đem cả những chữ tích phong trước kia và mỹ tự gia tặng lần này, viết liền đi, để cho hợp với việc làm trước[13]. Tổng hợp quy định ban phong mỹ tự năm Tự Đức thứ 3 (1850) như sau[14]:

 

Phẩm trật

Thần kỳ

Thiên thần

Thổ thần

Sơn thần

Thủy thần

Dương thần

Âm thần

Thượng đẳng thần

Túy mục

Hàm quang

Tuân tĩnh

Hoằng hợp

Trác vĩ

Trang huy

Trung đẳng thần

Linh thúy

Tĩnh hậu

Túng bạt

Uông nhuận

Quang ý

Trai thục

Hạ đẳng thần

Thuần chính

Đôn ngưng

Tú nghi

Trừng trạm

Đoan túc

Nhàn uyển

Đến năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), các thần nhất loạt được ban phong mỹ tự Dực bảo trung hưng. Xét các sắc phong thần kỳ tại Hội An, chúng tôi thấy có nội dung ban phong đúng như các quy định này. Để thấy rõ sự gia phong qua các đời vua triều Nguyễn có thể kê ra một số trường hợp như sau: Thần Thái giám Bạch Mã, năm Minh Mạng thứ 7 (1826), là năm ban phong đầu tiên của triều Nguyễn có tôn hiệu là Thái giám Bạch Mã Lợi vật chi thần. Đến năm Khải Định thứ 9 (1924), năm ban phong cuối cùng, vị thần này có tôn hiệu đầy đủ là Lợi vật Kiện thuận Hòa nhu Đoan túc Hàm quang Dực bảo trung hưng Thái giám Bạch Mã thượng đẳng thần. Vị Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị tôn thần năm Minh Mạng thứ 7 có tôn hiệu Hàm hoằng Quang đại Chí đức Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị thượng đẳng thần, đến năm Khải Định thứ 9 (1924) có tôn hiệu đầy đủ là Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Dực bảo trung hưng Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương thượng đẳng thần. Vị Nam Hải Cự tộc Ngọc Lân tôn thần (Cá Ông) năm Minh Mạng thứ 7 có tôn hiệu Từ tế Nam Hải Cự tộc Ngọc Lân chi thần, đến năm Khải Định thứ 9 có tôn hiệu đầy đủ là Từ tế Chương linh Trợ tín Trừng trạm Dực bảo trung hưng Nam Hải Cự tộc Ngọc Lân trung đẳng thần,…

Sắc phong thần Thành Hoàng xã Để Võng phụng thờ năm Minh Mạng thứ 7 - Ảnh: Tư liệu trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An

 

Xem xét các sắc phong thần kỳ ở Hội An, chúng tôi cũng nhận thấy rằng các vị vua đầu triều Nguyễn phong một vị thần tại một sắc phong. Bắt đầu từ năm Tự Đức thứ 33 (1880) thì có tình trạng phong nhiều vị thần trong một sắc phong. Một số sắc phong năm Khải Định thứ 9 (1924) phong đến 9 vị thần trong cùng một văn bản sắc. Về các dấu kim bảo, các sắc năm Minh Mạng thứ 5, Minh Mạng thứ 7 đóng dấu “Phong tặng chi bảo”. Từ năm Thiệu Trị trở về sau đóng dấu “Sắc mệnh chi bảo”. Dấu kim bảo được đóng từ chữ thứ 3 dưới tên niên hiệu. Một số sắc phong mặt sau có 2 dấu kim ấn nhỏ, một dấu hình bầu dục, bên trong hình vuông có 4 chữ triện 户 部 信 跡 (Hộ Bộ tín tích); một dấu hình vuông nhỏ có 2 chữ triện Lễ bộ. Có lẽ đây là các con dấu đóng khi kiểm tra các sắc phong.

Về sắc phong nhân vật, chúng tôi đã tập hợp được 69 đạo sắc của 36 nhân vật, người có số sắc phong nhiều nhất là 13, ít nhất là 1. Con số thực tế sẽ nhiều hơn, nhưng do chúng tôi chưa có cơ hội tiếp cận. Trong 36 nhân vật này, phần lớn là quan lại triều Nguyễn, trải qua các đời từ Gia Long cho đến Bảo Đại, trong đó có những người giữ các cương vị quan trọng như Thượng thư bộ Binh Nguyễn Tường Vân; Thự Thượng thư bộ Binh kiêm Hữu Đô ngự sử Đô Sát viện, Tổng đốc Nam Định, Hưng Yên, Đề đốc quân vụ kiêm lý lương hướng Nguyễn Văn Điển; Tham tri bộ Binh kiêm Hữu Đô Ngự sử Đô sát viện, Tuần phủ các xứ Định Tường, Đề đốc quân vụ kiêm lý lương hướng kiêm lãnh Bố Chánh sứ ấn triện Trần Ngọc Dao; Khâm sai Phó vệ úy Lý Đại Thành; Minh Nghĩa Đô úy Quản cơ cơ Trung Chấn thuộc Trung quân Nguyễn Viết Ngôn… Ngoài ra còn có những người giỏi về tính toán sổ sách, văn thư được phong các chức Văn Hàn Tham luận, Tham luận, Hàn Lâm viện Biên tu, Hàn Lâm viện Tu soạn… Một số người giỏi về hàng hải được phong các chức Vệ úy, Đội trưởng, Thí sai, Thư lại trong các đơn vị thủy quân. Trong số sắc phong này, có những sắc phong cho những người giỏi về nấu ngói lưu ly, nấu gạch ngói, khai thác yến sào các chức Tượng mục, quản lãnh yến hộ các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa… Một số người có công đóng góp tiền của cho triều đình thời Tự Đức, Bảo Đại cũng được tặng phong phẩm hàm tòng cửu phẩm, cửu phẩm Bá hộ.

Các sắc phong này phần lớn là bản gốc đang được lưu giữ tại các gia đình, tộc họ ở Hội An. Khung niên đại của các sắc phong này nằm trong khoảng từ năm 1779 đến năm 1943. Một số văn bản niên đại sớm, từ lúc Gia Long chưa lên ngôi hoặc đầu đời Nguyễn có thể thức không theo Hội Điển vì lúc này Hội Điển chưa ban hành nhưng có nội dung tương tự các sắc dùng để ban phong chức tước cho quần thần. Các văn bản này chưa dùng từ Chế viết, Sắc viết mà sử dụng từ Đặc truyền, do Nguyễn Ánh lúc bấy giờ ở cương vị là người đứng đầu tập đoàn quân chủ họ Nguyễn ban hành. Cương vị này được ghi trong Đại Nam thực lục tiền biên: “Năm Canh Tý, lại năm thứ 1 (1780) (Lê - Cảnh Hưng năm thứ 41; Thanh – Càn Long năm thứ 45) năm ấy vua (Nguyễn Ánh) mới lên ngôi nên lại chép năm thứ 1 mùa xuân, tháng Giêng, ngày Qúy Mão, vua lên ngôi vương. Khi vua mới quyền coi quốc chính, quần thần đến khuyên lên ngôi. Vua cho rằng thù nước chưa trả xong, nhún nhường không chịu, quần thần hai ba lần nài xin, vua mới theo, lên ngôi vương ở Sài Gòn. Văn thư đưa xuống gọi là chỉ truyền, sai phái gọi là chỉ sai, dùng ấn Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo (ấn này do Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế chế, nay dùng làm của báu truyền ngôi) nhưng vẫn theo niên hiệu nhà Lê, biểu chương của quần thần đều xưng là bẩm”.[15] Như vậy, các văn bản này của Nguyễn Ánh tương tự như sắc phong về sau dùng để ban phong chức tước, phân bổ quyền hành.

Văn bản có niên đại sớm nhất là bản “đặc truyền - 特 傳 của Nguyễn Ánh phong Tham luận Nguyễn Tường Vân làm Tri bạ chánh dinh, tước Vân Thành hầu. Chỉ truyền được viết trên giấy dó loại lớn có niên đại năm Cảnh Hưng thứ 60 (1799), đóng 2 dấu. Dòng niên đại đóng dấu Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo. Phía trên góc phải là dấu Tiểu Long Thủ tín thiên hạ văn võ quyền hành. Văn bản mất chữ đầu, có lẽ là chữ “Truyền - 傳” và kết thúc bằng cụm từ Khâm tai, đặc truyền. Văn bản thứ 2 có niên đại Cảnh Hưng năm thứ 62 (1801) phong Tham luận Nguyễn Văn Nghi chức Văn hàn Tham luận binh vụ, tước Tú Ngọc bá. Thể thức văn bản, dấu ấn giống như văn bản trên.

Một số sắc phong đời Gia Long và đầu đời Minh Mạng, ngoài dùng chữ Sắc để mở đầu và kết thúc bằng cụm từ Khâm tai cố sắc, còn có loại chiếu phong, mở đầu bằng cụm từ Chiếu và kết thúc bằng cụm từ Khâm tai, đặc chiếu. Hai loại này được dùng đồng thời, chỉ khác là loại chiếu phong thì đóng dấu Quốc gia tín bảo, còn sắc phong thì đóng dấu Chế cáo chi bảo. Có thể thấy các trường hợp này ở sắc phong Cai đội vệ Hầu lý Cẩn Tài hầu Nguyễn Văn Cẩn, năm Gia Long nguyên niên (1802), sắc phong Tham luận Tú Ngọc hầu Nguyễn Văn Nghi năm Gia Long thứ 2 (1803) và chiếu phong Nguyễn Tường Vân làm Ký lục Bình Thuận tước Nhuận Trạch hầu năm Gia Long thứ 9 (1810), chiếu phong Nguyễn Tường Vân chức Thự Thượng thư bộ Binh năm Minh Mạng nguyên niên (1820),… trích ở phần sắc phong nhân vật. Đến năm Minh Mạng thứ 19 (1838) thì cho đổi chữ chiếu thành chữ sắc[16], từ đó các sắc nhất loạt dùng từ sắc hoặc sắc viết và đóng dấu Sắc mệnh chi bảo.

Các chế phong ở Hội An có thể thức như quy định của Hội Điển, mở đầu bằng cụm từ: “Thừa thiên hưng vận Hoàng đế chế viết…”, sau phẩm hàm, thụy hiệu ban phong có cụm từ “Tích chi cáo mệnh”. Các chế phong này ban cho các quan lại từ ngũ phẩm trở lên và được viết trên giấy long đằng, trong khi đó các sắc phong cho quan lại từ lục phẩm trở xuống thì viết trên giấy dó khổ lớn. Cùng với chế phong, sắc phong còn có các tích phong dùng để ban thưởng phẩm hàm, thụy hiệu cho những thần hạ đã quá cố, hoặc cha mẹ các quan lại có công trạng lớn. Về tích phong những quan lại đã quá cố tại Hội An có thể kể ra tích phong truy tặng Suất đội Nguyễn Văn Chí người làng Hội An làm Vũ công Đô úy Đội trưởng Cấm binh; tích phong truy tặng Đội trưởng vệ 5 Thủy sư kinh kỳ giữ thuyền lớn Linh Phụng Bùi Phước Ưng người làng Thanh Hà làm Hiệu Trung Kỵ úy đội trưởng… Về tích phong cha mẹ các quan lại có công trạng lớn có thể kể ra tích phong cha mẹ đã quá cố của Vệ úy vệ 3 thuộc Hữu dinh kinh kỳ thủy sư Bùi Văn Trạch; tích phong cha mẹ đã quá cố của Tham tri bộ Công Hiệp lý kinh kỳ thủy sư Nguyễn Văn Điển[17]… Các tích phong này cũng bắt đầu bằng cụm từ: Thừa thiên hưng vận Hoàng đế chế viết, và đóng ấn Sắc mệnh chi bảo.

Đặc biệt tại Hội An, chúng tôi tìm thấy một tích phong năm Gia Long thứ 2 (1803) truy phong Khâm sai Phó vệ úy vệ Chấn Sai Lý Đại Thành người làng Minh Hương là Phụ Quốc công thần Chiêu Nghị tướng quân Khâm Sai Chánh vệ úy Cẩm uy vệ. Tích phong viết trên tấm lụa màu vàng, khổ dài 78cm, rộng 60cm, bốn cạnh vẽ đề tài lưỡng long tranh châu trong một đường viền rộng 3cm. Đây cũng là một cáo sắc vải duy nhất được tìm thấy ở Hội An cho đến nay. Tích phong mở đầu bằng chữ Sắc và kết thúc bằng hai từ Cố sắc, đóng dấu Phong tặng chi bảo. Đây là một tích phong thời Nguyễn sớm rất có giá trị về nhiều mặt.

Sắc phong thần Bộ hạ tam thập lục tướng xã Minh Hương phụng thờ năm Khải Định thứ 2  - Ảnh: Tư liệu trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An

 

Sắc phong là một loại tư liệu đặc biệt có giá trị về nhiều phương diện. Về lịch sử chúng là những tư liệu gốc, quý giá, chứa đựng nhiều thông tin chính xác, chân thực về tổ chức bộ máy chính quyền triều Nguyễn, về tên gọi các làng xã, về hành trạng của các nhân vật có những đóng góp cho địa phương và đất nước, về lịch sử phong tặng thần kỳ,… qua đó góp phần quan trọng bổ sung những khoảng trống của chính sử cũng như của hoạt động nghiên cứu lịch sử nói chung.

Về văn hóa, sắc phong thần kỳ cũng cung cấp tư liệu chính xác, có giá trị để xác định việc thực hành tín ngưỡng ở các cộng đồng làng xã, nhất là tín ngưỡng thờ tự các vị thần bảo hộ của địa phương, vai trò của tín ngưỡng này trong việc kết nối cộng đồng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa. Những quy định, tục lệ liên quan đến quá trình bảo quản, sử dụng thể hiện tâm lý sùng bái các sắc phong xem đây là những bảo vật linh thiêng mà gia đình, dòng họ, làng xã phải có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn, nhiều khi còn hơn cả tài sản quý giá. Sự mất mát, hư hỏng chỉ xảy ra do điều kiện khách quan bất khả kháng, hoặc do hạn chế về điều kiện, phương tiện, chứ không phải do ý thức bảo quản.

Các sắc phong còn cung cấp những thông tin quan trọng về kỹ thuật chế tác và nghệ thuật trang trí trên giấy truyền thống, đặc biệt là loại giấy long đằng, giấy dó dùng cho sắc phong, về thư pháp học, ấn triện học, …

Sắc phong là những tư liệu quý giá, đặc biệt có thời gian tồn tại nhiều trăm năm, cung cấp nhiều thông tin quan trọng cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử - văn hóa ở phạm vi địa phương và cả nước. Trải qua thời gian lâu dài, dưới tác động của môi trường tự nhiên và con người, nhiều sắc phong đã bị hư hỏng, mất đi. Số còn lại thật sự là những bảo vật cần phải được bảo quản, giữ gìn nghiêm ngặt, bằng những phương tiện, phương pháp chuyên ngành, khoa học. Chúng tôi đã từng gặp trường hợp sắc phong bị vụn nát thành từng mảnh nhỏ, hoặc có trường hợp sắc phong được/bị ép nhựa (plactic) để treo. Vì vậy, việc hướng dẫn phương pháp, cách thực hiện bảo quản cho các chủ thể có sắc phong là hết sức cần thiết. Và cũng cần hạn chế tối đa việc đưa sắc phong ra sao chụp, làm tư liệu. Nếu có chỉ nên làm tiến hành sao chụp kỹ một lần để lưu trữ, sử dụng, tránh tình trạng những sắc phong gốc có tuổi đời hàng trăm năm lại bị hư hỏng, rách nát do hoạt động của con người hiện nay.


 

[1] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 2, Nxb Thuận Hóa, 2005.

[2] Trong bản dịch không có hai chữ này, chúng tôi ngờ rằng do dịch sót nên thêm vào.

[3] Nội các triều Nguyễn, sđd, tập 2, tr.245-246.

[4] Nội các triều Nguyễn, sđd, tập 2,  tr.246-250.

[5] Nội các triều Nguyễn, sđd, tập 2,  tr.101-104.

[6] Nội các triều Nguyễn, sđd, tập 2, tr.226.

[7] Chen Ching Ho,“Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã và các cổ tích tại Hội An”, Việt Nam khảo cổ tập san, số 1, Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn, 1960, tr.22-24.

[8] Hiện lưu giữ ở nhà thờ tộc Đoàn, Duy Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam.

[9] Nguyễn Đăng Vũ (chủ biên) (2020), Di sản Hán Nôm Quảng Ngãi- các loại hình và giá trị đặc trưng, Nxb Khoa học – Xã hội, tr.399.

[10] Theo tài liệu, chúng tôi được biết làng Minh Hương có 2 nhân vật được phong Linh phù chi thần là Lý Đại Thành và Thái Văn Chuyên

[11] Nay là khối Trường Lệ, phường Cẩm Châu

[12] Các sắc phong năm Minh Mạng thứ 3 ở một số địa phương vẫn còn dùng từ “Cố sắc” để kết thúc.

[13] Nội các triều Nguyễn, sđd, tập 4, tr.353.

[14] Nội các triều Nguyễn, sđd, tập 4, tr.354.

[15] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, tập 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr.208.

[16] Nội các triều Nguyễn, Sđd, tập 2, tr.239.

[17] Đây là chức ghi trong tích phong năm Tự Đức thứ 2 (1849), đến năm Tự Đức thứ 4 (1851), Nguyễn Văn Điển được thăng Thự Thượng thư bộ Binh, kiêm Hữu Đô ngự sử Đô sát viện, Tổng đốc Nam Định, Hưng Yên, Đề đốc quân vụ kiêm lý lương hướng.

Tin liên quan