Tri thức dân gian về xảm trét Ghe thuyền ở Hội An

Ngày 4/12/1999, UNESCO công nhận Khu phố cổ Hội An là Di sản văn hóa thế giới với 2 tiêu chí (tiêu chí II và tiêu chí V).

      Trong đó tiêu chí II rằng: “Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế” (Criterion (ii): Hoi An is an outstanding material manifestation of the fusion of cultures over time in an international commercial port). Chính sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ đã tạo nên giá trị nổi bật toàn cầu của di sản văn hóa Hội An không chỉ đa dạng mà còn rất độc đáo, riêng có. Tính đa dạng của văn hóa Hội An biểu hiện dưới góc độ nghề truyền thống là hiện nay vẫn bảo tồn và phát huy, phát triển với hàng trăm nghề thuộc nhiều lĩnh vực. Nổi bật trong lĩnh vực nghề thủ công là nghề đóng, sửa ghe thuyền với hệ thống kỹ thuật, kinh nghiệm, tri thức truyền thống hết sức phong phú được gìn giữ, lưu truyền qua nhiều thế hệ. 

      1.Vài nét về nghề đóng sửa ghe thuyền ở Hội An 

      Trước khi thuộc về Đại Việt, vùng đất Hội An - Quảng Nam là địa bàn cư trú, sinh sống của người Chăm. Nhiều kết quả nghiên cứu về lịch sử, văn hóa đã khẳng định Champa là vương quốc hướng biển, cư dân Champa có truyền thống đi biển rất giỏi và cùng với đó là nghề đóng sửa ghe thuyền của họ cũng rất phát triển. Chiếc ghe bầu nổi tiếng của Quảng Nam, miền Trung là sản phẩm của sự kế thừa, tiếp nối, kết hợp về mặt kỹ thuật, kinh nghiệm giữa người Chăm và người Việt tại vùng đất này[1]

      Người Việt đến sinh sống ở Hội An từ rất sớm. Từ cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, một số làng xã người Việt đã hình thành ở Hội An[2], và quá trình này diễn ra mạnh mẽ ở thế kỷ XVII-XVIII. Với vị trí là vùng cửa sông - ven biển, lại được tiếp nhận kỹ thuật của lớp cư dân trước đó và hơn thế nữa là trong bối cảnh kỷ nguyên đại thương mại biển phát triển mà Hội An lúc bấy giờ là thương cảng thuyền buồm quốc tế bậc nhất khu vực nên nghề đóng sửa ghe thuyền ở Hội An có điều kiện phát triển mạnh, hình thành làng nghề chuyên đóng sửa ghe thuyền là làng mộc Kim Bồng. Về sau này, bên cạnh trung tâm đóng sửa ghe thuyền ở làng mộc Kim Bồng, những trại đóng/xưởng đóng ghe thuyền ở khu vực lân cận cũng được hình thành, song gốc thợ hoặc được học nghề đều từ làng Kim Bồng[3]. Riêng tại Kim Bồng, nghề đóng ghe thuyền có sự phân hóa chuyên môn sâu, ngoài lực lượng thợ đóng sửa về phần gỗ, còn có đội ngũ thợ chuyên về xảm trét[4]. Theo nhà nghiên cứu Trần Văn An trong sách Ghe bầu trong đời sống văn hóa ở Hội An - Quảng Nam, trước đây, để hoàn thành chiếc ghe bầu trọng tải 80-100 tấn phải mất hết 4-5 tháng với lực lượng thợ chuyên môn gồm 1-2 thợ xẻ gỗ, 1-2 thợ xảm, 1-2 thợ làm bánh lái, 6-8 thợ đóng chính, 2-4 thợ phụ, 1 thợ cả[5]

 

      Sản phẩm của nghề đóng sửa ghe thuyền ở Hội A rất đa dạng phục vụ mục đích giao thông đi lại (ghe đò,...), vận chuyển hàng hóa - buôn bán (ghe bầu, ghe trường đi nguồn, ghe rỗi buôn cá), vận tải vật liệu, khai thác đánh bắt thủy hải sản trên sông biển (ghe soi, ghe quét rớ, ghe mành, ghe giã cào, sõng/trễ...), phục vụ ứng phó với bảo lụt, phục vụ hoạt động lễ hội (ghe đua). Chất liệu bằng gỗ (ghe săn), gỗ và tre, gỗ và tôn. Bên cạnh đó còn có ghe nan, thúng chai và thúng méo của nghề đan thúng chai, ghe nan cũng có lịch sử lâu đời và khá phát triển[6].

      Trong nghề đóng ghe thuyền (gỗ), sau khi hợp đồng giữa chủ trại và người đặt hàng, quy trình/công đoạn cơ bản để hoàn thành một chiếc ghe trải qua các bước: Định thước tấc - Chuẩn bị vật liệu - Chuẩn bị chỗ đóng - Ra gỗ theo kích thước định sẵn - Làm long cốt, lô lái, lô mũi – Ráp long cốt với lô (giáp ghim) - Làm be, đà, giang và ráp với long cốt, lô - Làm then, ván đọ và ráp với be, long cốt - vời (chấn các phần dư của gỗ) - xảm, trét - điểm nhãn - hạ thủy. Tuy nhiên, tùy từng kích cỡ của ghe và mục đích sử dụng mà các công đoạn phải thực hiện có thể nhiều hơn, phức tạp hơn. 

      Trong từng công đoạn để đóng hoàn thành một chiếc ghe, bên cạnh việc nắm vững kỹ thuật, quy trình, người thợ còn tích lũy hệ thống kinh nghiệm - tri thức phong phú giúp việc thực hiện công việc nhanh và hiệu quả hơn. Đó là việc đúc kết thành những câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ,... để chỉ cách làm, cách nhận biết các loại gỗ, cách sử dụng công cụ cho từng công đoạn..., 

      2. Tri thức dân gian về xảm, trét ghe thuyền ở Hội An

      Như đề cập ở trên, xảm, trét là công đoạn quan trọng để hoàn thiện một chiếc ghe khi đóng mới, cũng là công đoạn chính yếu khi tu sửa, bảo dưỡng theo định kỳ[7]. Làm thế nào để công đoạn này được thực hiện đạt được hiệu quả góp phần đảm bảo an toàn khi sử dụng và đảm bảo thời hạn sử dụng của chiếc ghe lâu dài vừa là câu hỏi và cũng chính là mục tiêu, mục đích mà người thợ hướng đến. Vì vậy, người thợ không chỉ tìm kiếm, lựa chọn những nguyên liệu phù hợp để sử dụng mà quá trình thực hành còn được đúc kết thành quy trình với các phương pháp, cách thức, công cụ riêng.

      * Lựa chọn và chuẩn bị nguyên liệu

      Theo kết quả tham vấn cộng đồng và khảo sát thực tế, nguyên liệu chính yếu truyền thống để xảm, trét ghe thuyền (gỗ) gồm có: Dầu rái, xơ tre, chai phà[8]. Ngoài ra còn có các nguyên liệu như dầu phụng, dầu tràm, vôi, dầu hỏa để phụ gia và giúp công việc được thực hiện thuận lợi hơn. Với đặc tính là loại nhựa đông cứng khi khô, dầu rái được trộn với chai phà hoặc với xơ tre để bịt kín các khoảng hở giữa be, long cốt, lô, và một số vị trí khác trên ghe, chống thấm nước vào bên trong ghe. Dầu rái để trét vừa bảo vệ vỏ ghe (không để gỗ thấm nước làm nhanh mục) trong môi trường nước vừa tạo độ bóng đẹp của chiếc ghe làm tăng niềm tin của chủ ghe về sự an toàn, phát đạt khi hành nghề.