Đề tài, chi tiết trang trí tại các di tích thờ cúng Cá Ông ở Hội An

Hội An là một vùng đất nằm ở vị trí cửa sông – ven biển với nhiều địa phương có địa giới tiếp giáp sông nước, biển cả. Theo đó, nhiều nơi đời sống mưu sinh của nhân dân gắn liền với biển cả đầy thách thức, hiểm nguy. Trong quá trình mưu sinh, cộng đồng ngư dân đã hình thành một số hình thức văn hóa tín ngưỡng gắn liền với biển cả, trong đó có tín ngưỡng thờ cúng cá Ông.

Cá Ông là một loài cá sinh sống trên biển, ngư dân đi biển khi gặp sóng to, gió lớn thường được loài cá này cứu giúp, do đó được triều đình nhà Nguyễn nhiều lần sắc phong thần, ngư dân lập lăng thờ phụng, đặc biệt là khi cá Ông lụy (chết) trôi dạt vào địa phận của làng nào thì làng đó sẽ tổ chức an táng cho cá Ông, sau đó sẽ thỉnh hài cốt vào thờ tự trong lăng. Theo Danh mục Di tích – Danh thắng Hội An ban hành năm 2015, trên địa bàn thành phố Hội An hiện nay có 05 lăng thờ cá Ông được ghi vào Danh mục Di tích với các cấp xếp hạng khác nhau: lăng Ông Ngư ở thôn Bãi Làng, xã Tân Hiệp (di tích cấp quốc gia); lăng Ông ở khối An Bàng, phường Cẩm An (di tích cấp tỉnh); lăng Ông ở khối Hà Trung, phường Cẩm Nam (di tích cấp tỉnh); lăng Ông ở thôn Thanh Nhứt, xã Cẩm Thanh (danh mục bảo vệ của tỉnh); lăng Tiêu Diện ở khối Phước Hải, phường Cửa Đại (danh mục bảo vệ của tỉnh). Hầu hết các di tích này được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trải qua thời gian với nhiều yếu tố tác động, các lăng đã có sự thay đổi về hình thức kiến trúc, đề tài trang trí đã không còn nguyên gốc. Trong bài viết này xin giới thiệu về những đề tài, chi tiết trang trí tại các di tích thờ cúng cá Ông ở Hội An hiện nay.

Trong các di tích thờ cúng cá Ông ở Hội An hiện nay, ngoài di tích lăng Ông thuộc cụm di tích Khu lăng Năm Sở ở phường Cẩm Nam thì các di tích còn lại đều có hạng mục tường rào, cổng ngõ. Hạng mục tường rào, cổng ngõ ở các di tích này có quy mô nhỏ, chi tiết trang trí đơn giản, tập trung ở cổng. Cổng gồm hai trụ tiết diện vuông, trên đỉnh trụ gắn chi tiết trang trí hình tượng hoa sen bằng chất liệu vữa (lăng Ông An Bàng, lăng Ông Cẩm Thanh, lăng Ông Ngư), hay bằng sứ (lăng Tiêu Diện); riêng lăng Ông An Bàng ngoài hai trụ cổng chính thì hai bên còn bố trí thêm hai trụ bên trên trang trí tượng con Lân được khảm sành sứ. 

Lăng Ông Ngư ở Cù Lao Chàm - Ảnh: Hồng Việt

Án ngữ trước các lăng thờ đều có một bức bình phong, các bình phong này nhìn chung có cùng kiểu dáng hình cuốn thư, xây bằng gạch, tô trát vữa. Hầu hết mặt trước các bình phong đều được trang trí đề tài linh vật (trừ lăng Ông Cẩm Thanh không trang trí). Bình phong lăng Ông An Bàng và lăng Ông Ngư cùng trang trí đề tài “Long mã phụ hà đồ”, tuy nhiên hình thức tạo hình không giống nhau, trong khi đề tài “Long mã phụ hà đồ” tại bình phong lăng Ông Ngư được khảm bằng các mảnh sành sứ thì tại lăng Ông An Bàng được đắp nổi bằng chất liệu vữa, quét vôi màu. Tại di tích lăng Ông Cẩm Nam và lăng Tiêu Diện sử dụng đề tài hổ để trang trí tại mặt trước bình phong. Nghệ thuật tạo hình đối với đề tài này không theo một khuôn mẫu nhất định, như hình tượng hổ trên bình phong lăng Ông Cẩm Nam có tư thế hướng về phía Tây, xung quanh đắp nổi hình tượng cây cối theo kiểu cách điệu, đơn giản, trên bề mặt ngoài hai trụ bình phong đắp nổi câu đối chữ Hán; trong khi đó hình tượng hổ trên bình phong lăng Tiêu Diện có tư thế hướng về phía Đông, đầu lại ngoảnh về phía Tây, xung quanh đắp nổi hình tượng cây cối khá sinh động, bên dưới vẽ chi tiết trang trí dây lá, hai cạnh bên đắp nổi chi tiết hồi văn, bề mặt ngoài hai trụ không trang trí. Đối với bình phong có trụ biểu hai bên, trên đầu trụ biểu đều được gắn hình tượng hoa sen (lăng Ông Cẩm Thanh, lăng Ông Cẩm Nam). Mặt trong bình phong có hai trường hợp xây bệ thờ có mái che (lăng Ông An Bàng, lăng Ông Cẩm Thanh), trên tường mặt sau thường đắp nổi chữ Hán, tại lăng Ông Cẩm Thanh đắp nổi hai chữ Hán: 髙 望(Cao vọng), trên cổ lầu hướng vào lăng đề 4 chữ Hán: 臺 靈 婺 寶 (Đài linh vụ bảo); tại lăng Ông An Bàng đắp nổi hai chữ Hán: 陰 靈 (Âm linh). Hình thức mái che lăng Ông Cẩm Thanh kiểu khám thờ, đúc bằng xi măng, mái đắp giả ngói âm dương, bờ nóc gắn chi tiết trang trí dây lá, mặt nhật, đầu bờ chảy gắn chi tiết cuộn mây, trên thân hai trụ trước đắp nổi hình tượng rồng cuộn quanh thân trụ, các ban thờ đơn giản, không có chi tiết trang trí. Hình thức mái che bình phong lăng Ông An Bàng đơn giản, chỉ gồm một tấm đan bê tông và hai trụ đỡ tiết diện tròn, các ban thờ không có chi tiết trang trí. Mặt trong bình phong lăng Ông Ngư ở Tân Hiệp được trang trí các đề tài giàu giá trị nghệ thuật: chính giữa khảm các mảnh sứ tạo hình tượng cá trong tư thế tung lên khỏi mặt nước, đầu hướng lên trên, hai bên trang trí đối xứng đồ án “Đông bình Tây quả”, nền trang trí các chi tiết chữ 卍 (Vạn) cách điệu, phần trên cùng trang trí thêm mảng các họa tiết đám mây mềm mại. 

Hạng mục lăng thờ đa số có quy mô vừa và nhỏ, kích thước không giống nhau nhưng có cùng mặt bằng hình chữ 丁 (Đinh), kết cấu gồm tiền đường và hậu tẩm. Mặt tiền lăng thờ thường trang trí đơn giản, có hai di tích đắp nổi cặp câu đối chữ Hán trên bề mặt hai trụ hiên (lăng Ông Cẩm Nam, lăng Ông Cẩm Thanh), riêng mặt tiền lăng Ông An Bàng không trang trí các cặp câu đối chữ Hán nhưng được trang trí công phu và giàu giá trị thẩm mỹ thông qua hình tượng các bình hoa, dây lá (các chi tiết trang trí này được tạo hình bằng hình thức đắp nổi bằng chất liệu vữa, quét vôi màu). Trên tường lối vào chính điện lăng thờ thường để trống, riêng tại di tích lăng Ông Cẩm Thanh có trang trí bức hoành được đắp nổi bằng chất liệu vữa, có dạng cuốn thư, bề mặt đắp nổi các chữ Hán: 宇 宙 回 春 (Vũ trụ hồi xuân)

Hệ mái các lăng thờ là hạng mục được trang trí công phu và có tính chung nhất thông qua các đề tài trang trí. Hầu hết hệ mái các lăng thờ đều trang trí các đề tài thuộc “Tứ linh(long, lân, quy, phụng) đồng thời kết hợp chi tiết mặt nhật, hoa dây ở vị trí trung tâm tạo sự đối xứng, cân đối giữa các đồ án. Các đồ án này được nghệ nhân tạo tác công phu thông qua hình thức đắp nổi, khảm các mảnh sành sứ đa dạng màu sắc lên bề mặt các chi tiết tạo sự mềm mại cho chủ thể. Tại vị trí diềm bờ nóc mái lăng Ông Ngư (Tân Hiệp) có trang trí các chi tiết khá đặc trưng của địa phương thông qua nghệ thuật đắp nổi, vẽ màu các hình tượng sóng biển và chim yến, hoa quả kết hợp. Hệ mái tại di tích lăng Ông Cẩm Thanh được trang trí các đề tài đơn giản, khác biệt so với các lăng khác thông qua đề tài “Lưỡng long chầu nhật” ở trên bờ nóc chính điện, đầu bờ chảy trang trí đề tài “Lý ngư hóa long”, các đề tài này được tạo hình bằng chất liệu vữa. 

Bên trong tiền đường các lăng thờ đều bố trí 3 bàn thờ, gồm: 1 bàn thờ ở gian chính giữa, hai bàn thờ sát tường hai bên gian trái/phải. Trong đó, bàn thờ gian chính giữa thường là bàn hương án, thờ hội đồng, riêng lăng Ông Ngư thì bàn thờ này là nơi đặt thờ các bài vị cá Ông. Đề tài trang trí bàn thờ này tập trung tại quần bàn, các đề tài trang trí khá đa dạng, không theo một khuôn mẫu nào, cụ thể:

- Lăng Ông Ngư: Chính giữa quần bàn trang trí đề tài “Long vân”, hai cạnh ngoài trang trí đề tài “Phụng vũ”, hai cạnh trên cùng trang trí chi tiết hồi văn kết hợp dây lá. 

- Lăng Ông Cẩm Thanh: Chính giữa quần bàn trang trí đề tài “Long ngư hý thủy”, bốn góc trang trí đề tài dơi cách điệu, diềm trên trang trí đề tài dây lá.

- Lăng Tiêu Diện: Chính giữa quần bàn trang trí đề tài hổ.

- Lăng Ông An Bàng: Chính giữa quần bàn trang trí đề “Long vân”, viền trên trang trí đồ án thuộc bát bửu (2 cây bút).

- Lăng Ông Cẩm Nam: Chính giữa quần bàn trang trí đề tài “Long ngư hý thủy”. 

 Bàn thờ gian trái/phải thường thờ tả ban/hữu ban (lăng Ông Cẩm Nam), Phước hải/Thọ sơn (lăng Ông Ngư, lăng Ông Cẩm Thanh), Phúc/ Thọ (lăng Ông Tiêu Diện), Quang tiền/Dụ hậu (lăng Ông An Bàng); các đề tài trang trí tại các bàn thờ này cũng khá đa dạng, không trùng lắp, cụ thể:

- Lăng Ông Cẩm Nam: 

Bàn thờ gian trái: trên tường viết chữ 左 班 (tả ban), bên trên trang trí đề tài “Tùng lộc”, quần bàn trang trí đề tài “Phụng vũ”, hai cạnh trên vẽ đề tài con dơi, diềm trên cùng trang trí đề tài thuộc bát bửu (quyển sách). 

Bàn thờ gian phải: trên tường viết chữ 右 班 (hữu ban), bên trên trang trí đề tài “Tùng lộc”, chính giữa quần bàn trang trí đề tài “Phụng vũ”, hai cạnh trên vẽ đề tài con dơi, diềm trên cùng trang trí đề tài thuộc bát bửu (quyển sách)

- Lăng Tiêu Diện:

Bàn thờ bên trái: trên tường viết chữ 福 (Phúc), hai bên viết cặp câu đối chữ Hán, bên trên trang trí đề tài “Tùng lộc”, quần bàn trang trí đề tài “Phụng vũ”, bốn góc trang trí chi tiết dây lá.

Bàn thờ bên phải: trên tường viết chữ 壽 (Thọ), hai bên viết cặp câu đối chữ Hán, bên trên trang trí tranh phong cảnh với đề tài làng chài biển và núi non, quần bàn trang trí đề tài “Phụng vũ”, bốn góc trang trí chi tiết dây lá cách điệu. 

- Lăng Ông Cẩm Thanh: 

Bàn thờ gian trái: trên tường vẽ khám thờ, chính giữa viết hai chữ Hán: 福海 (Phước Hải), hai bên viết cặp câu đối chữ Hán, trán khám thờ trang trí đề tài “Lưỡng long chầu nhật” theo kiểu thức hóa (dây lá hóa long). Chính giữa quần bàn trang trí đề tài “Phụng vũ”, bốn góc trang trí chi tiết dây lá, hai mảng hai bên đối xứng nhau qua đề tài “Phụng vũ” là đề tài hoa cúc (bên trái) và đề tài quả đào (bên phải)

Bàn thờ gian phải: trên tường vẽ khám thờ, chính giữa viết hai chữ Hán: 夀 山 (Thọ Sơn), quần bàn trang trí các đề tài giống quần bàn bàn thờ gian trái.

Trong số các lăng Ông đề cập trong bài viết này, chỉ có di tích lăng Ông Cẩm Thanh tại tiền đường bố trí đến 4 bệ thờ ở hai gian trái/phải, ngoài hai bàn thờ Phước Hải/Thọ Sơn thì tại sát tường biên gian trái bố trí một bệ thờ, trên tường vẽ một khám thờ hình thức trang trí đơn giản giống như một bài vị (phần chân trang trí kiểu chân quỳ), chính giữa viết các chữ Hán: 前 往 英 靈 (Tiền vãng anh linh); bệ thờ bên gian phải trang trí giống bàn thờ bên gian trái nhưng đề các chữ Hán khác: 後 往 英 靈 (Hậu vãng anh linh).