Góp phần thông tin về các thần tích ở Hội An

Tư liệu nghiên cứu về Hội An rất đa dạng và phong phú. Bên cạnh các tư liệu gốc có giá trị khoa học cao như địa bạ, châu bản, sắc phong, gia phả, văn bia,… thì một loại tư liệu khác cũng có giá trị để tìm hiểu về lịch sử - văn hóa Hội An, nhất là tín ngưỡng thờ tự các vị thần trong các làng xã, đó là các thần tích.

   Thần tích là sự tích về thần được thờ tại các làng - xã. Thần sắc là những đạo sắc do nhà nước phong kiến mà người đại diện là nhà vua ban cho các làng - xã trong việc thờ phụng tại địa phương. Sự tích các vị thần được các nhà nho văn hay chữ tốt biên soạn bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, những sự kiện lịch sử đan xen chuyện kể dân gian, tạo sự phong phú và sinh động. Đây thường là các anh hùng có công đánh giặc ngoại xâm, người có công khai ấp mở làng, các vị tổ nghề, có khi là các vị thần sông, thần biển[1]...

   Qua tìm hiểu, các làng xã trong cả nước nói chung, làng xã ở Hội An, Quảng Nam nói riêng đều có thần tích ghi chép về các vị thần được các làng xã thờ tự, đó có thể là những vị nhân thần, thiên thần hoặc nhiên thần. 

   Về các làng xã ở Hội An, đến nay đã sưu tầm được 9 thần tích. Các thần tích chủ yếu được viết bằng chữ Quốc ngữ, một số được viết bằng Pháp văn và chữ Hán Nôm. Các thần tích này do các nhà nho, thầy giáo văn hay chữ tốt ghi chép, vào khoảng thời gian từ năm 1937 - 1939. Bản gốc các thần tích hiện đang lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Bản sao hiện lưu tại Trung tâm Quản lý bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.

   Về các làng xã có thần tích: gồm làng Bồng Đông (1 thần tích), làng Thanh Đông (1 thần tích), làng Thanh Hà (2 thần tích), làng Minh Hương (2 thần tích), làng Phước Trạch (2 thần tích), làng Cẩm Phô (1 thần tích).

   Về các vị thần được ghi chép trong thần tích: Bổn triều Trung Dinh Nguyễn Quý Công; Huyền Thiên thượng đế; Ông Tứ, Ông Bích và Ông Cụt, Ngọc Nữ linh cô, Đại Càn, Thiên Y Diễn Ngọc Phi, Ngũ Hành, Dương Phi phu nhân, Thái Giám Bạch Mã, Thành Hoàng, Nam Hải cự tộc Ngọc Lân.

   Về nội dung: các thần tích được ghi chép theo thứ tự như sau tên làng, tên thần, nơi thờ tự, ngày vía, lễ vật, số người cử hành lễ, kiêng cữ và những việc nên làm, trang phục người cử hành lễ, cấm kỵ, sự thay đổi trong lễ cúng, cuối cùng là tên người viết và năm hoàn thành.

   Trong các thần tích trên, chúng tôi lựa chọn trình bày nội dung một số thần tích về các vị thần được tờ tự tại một làng xã duy nhất, có thể kể đến như sau: 

Miếu Trung Dinh ở Cẩm Kim - Ảnh: Hồng Việt

   1. Thần Bổn triều Trung Dinh Nguyễn Quý Công, là một vị nhân thần. Thần được thờ tại làng làng Kim Bồng Đông (nay thuộc xã Cẩm Kim)

   Thần tích về vị thần được ghi chép như sau: Tục truyền thần là một vị tướng tài dưới thời nhà Nguyễn (không ghi chép rõ thời vua nào trị vì) và nơi trước đây ông lập đồn đóng quân ngày nay chính là ngôi miếu thờ ông. Ngôi chợ ngày nay gần miếu thờ có tên là chợ Đồn. Thần không có sắc phong, không có làng nào khác thờ vị thần này. Thần được thờ trong ban thờ có ngai, khăn phủ và hộp bằng giấy.

   Việc tế lễ được tổ chức trong một ngôi miếu được bao phủ bởi những cây lớn. Lễ cúng chính diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch. Lễ vật bao gồm một nén hương, rượu và trà. Lễ vật do làng chi trả. Sau lễ cúng, các chức sắc sẽ chia nhau lộc do thần ban.

   Chỉ có một người duy nhất cử hành lễ vía. Đó là một chức sắc già, người được tôn trọng và có chức bậc cao nhất trong làng. Ba ngày trước lễ vía, người cử hành lễ vía phải thực hiện những điều kiêng kỵ và những điều nên làm. Người cử hành lễ vía mặc áo dài màu xanh tay thụng. Không có bất kì cấm kỵ nào đối với dân làng khi tham gia lễ cúng.

   2. Vị thần Ông Tứ, Ông Bích và Ông Cụt[2], các vị thần này là nhân thần. Thần được thờ tại làng Thanh Hà (nay thuộc phường Thanh Hà).

   Sự tích của ba vị thần này được ghi chép như sau: Tục truyền ngày xưa trong làng Thanh Hà có một người con gái nhà họ Nguyễn gả cho ông Thiệp người làng Đại Lợi, huyện Đại Lộc. Tại làng Thanh Hà, hai vợ chồng sống cùng nhau, bà thụ thai đến ba năm mới sinh đẻ, khi lâm bồn sinh được ba cái trứng, hai vợ chồng ông Thiệp cho là đều quái dị, bỏ ba cái trứng ấy trong một cái om thả xuống sông đưa đi, om trứng ấy trôi ra đến Cù Lao Chàm (làng Tân Hiệp), ba trứng nở được ba ông rắn, nương dựa nơi làng Tân Hiệp. Khi trưởng thành, ba ông về quê quán thăm cha mẹ, khi về gặp ông Thiệp đang dọn ruộng, ba ông bò luẫn quẫn bên chân nơi bờ cỏ, ông Thiệp cắt cỏ nhắm đứt cái đuôi một ông rắn nhỏ. Ông ứng đồng lên kể sự tích như trên cho cha mẹ và người làng biết và bảo làng phải làm miếu thờ ba ngài. 

   Sau khi cha mẹ ba ông từ trần, hằng năm đến ngày tảo mộ cùng ngày kỵ nhựt thì ba ông về nằm nơi mộ, hoặc ngày sóc, ngày vọng, khi người từ vào thắp hương thì thấy ba ông rắn rất lớn nằm khoanh vòng trên cái khám miếu Tam vị, là nơi làng thờ ba ngài.

   Trong ba vị thần, thì ông Tứ được sắc phong 3 lần vào năm Tự Đức thứ 5 (1852), Tự Đức thứ 33 (1880) và Đồng Khánh thứ 2 (1887). Các vị thần được thờ ở trên cái khám vôi, ở giữa khám có một cái ngai, không có tạc tượng cũng không có áo mão. Thờ ba vị thần này tại một sở miếu riêng gọi là miếu Tam vị. Quang cảnh nơi thờ trang nghiêm và sạch sẽ. 

   Hàng năm đến mùa Xuân và mùa Thu thì làng Thanh Hà tổ chức tế lễ 3 vị thần này. Mùa Xuân tế vào ngày rằm tháng 3, mùa Thu tế vào ngày rằm tháng 8. Năm nào có bệnh dịch hay hạn hán thì làng sắm lễ cúng ở Miếu Tam vị thường có hiệu nghiệm. Khi người trong làng thi đậu hay được thăng chức thì cũng tổ chức cúng tế tại miếu. Lễ vật cúng tế gồm trầu, rượu, hương, đèn và heo, xôi... Làng trích ruộng công đặt làm tế điền, đấu giá lấy bạc giao cho Lý trưởng mua lễ vật cúng tế. Khi cúng xong, dành một phần kính biếu cho những người dự lễ, còn lại bày tiệc cho dân làng hưởng.

   Có 9 người tham gia lễ tế, trong đó có 1 người chánh tế, 2 người tả hữu phân hiến, 1 người xướng, 1 người đọc văn tế và 4 người giúp lễ. Những người dự tế trước khi cúng tế phải trai giới và tắm gội sạch sẽ. Chánh tế và bồi tế đều mặc áo rộng màu xanh, người giúp lễ thì mặc đồ lễ phục.

   Trong khi cúng tế cấm không được la to, say sưa. Ngày thường không được nói tiếng “cụt”, ví như áo cụt thì nói là “áo qua” (vì liên quan đến sự tích 1 trong 3 vị thần rắn bị cụt đuôi). Những người vi phạm quy ước phải chịu phạt một mâm trầu, cau, rượu và phải đem đến cho làng ngay sau khi buổi tế lễ kết thúc. Nếu người nào bất tuân thì giao Lý trưởng trình quan địa phương nghiêm trị. Nếu tái phạm, nếu lỗi nhẹ thì được tha bổng, bị lỗi nặng thì có giấy lưu chiếu tại làng.